Bài viết của Vương Thắng

[MINH HUỆ 12-03-2012] Tuyệt đại đa số người Trung Quốc hiện đại đều không biết “Tam thư lục lễ” là gì nữa rồi. Nhất là sau khi Trung Cộng phá hủy văn hóa truyền thống Trung Hoa, ‘Tam thư lục lễ’ càng hiếm người biết.

“Tam thư lục lễ” chính là nguyên tắc hơn 60 năm trước khi mọi người cử hành hôn lễ cần phải tuân theo. Bất kể là hoàng gia hiểu quý hay là người dân áo vải đều phải chiểu theo phép tắc này đối đãi với sự kiện trọng đại của cả đời người. Còn có thể đạt được yêu cầu của “Tam thư lục lễ” một cách hoàn mỹ không thì còn phải xem tương lai hôn nhân này có mỹ mãn hay không.

Trước khi nói chuyện hôn lễ, chúng ta cần biết ở Trung Quốc vào trên 60 năm về trước thì điều kiện tiền đề để đôi nam nữ thanh niên bước vào lễ đường hôn lễ hình thành như thế nào.

Hôn lễ là một trong “Ngũ lễ” của người Trung Quốc, được coi là đại lễ truyền thống của người Trung Quốc. Trong “Lễ ký – Hôn nghĩa” có ghi chép: “Hôn lễ là việc tốt lành hợp với hai họ, đối với trên là thờ tông miếu, mà đối với dưới là để duy trì đời sau, do đó người quân tử coi trọng hôn lễ.” Người xưa cho rằng mục đích cuối cùng của kết hôn chính là nối tiếp tổ tông kế tiếp đời sau. Do đó nam nữ trước khi kết phu thê có tình cảm hay không thì không quan trọng, mà người nữ có đủ tư cách bước vào nhà không mới là quan trọng nhất. Vì vậy phải tuân theo mệnh của cha mẹ và lời của người mai mối.

“Kinh Thi” có viết: “Lấy vợ thì như thế nào? Phải nói với mẹ cha”. Trong sách “Mạnh Tử” cũng viết: “Chưa có mệnh lệnh của cha mẹ, lời của người mai mối mà khoét tường nhìn nhau, vượt tường theo nhau thì cha mẹ và quốc dân đều khinh bỉ.” Đôi nam nữ chưa được cha mẹ đồng ý và người mai tác hợp thì không được xã hội thừa nhận và coi trọng.

Mệnh lệnh của cha mẹ và lời của người mai mối thì mệnh cha mẹ là đặc biệt quan trọng. Mệnh lệnh của cha mẹ là chỉ lệnh thứ nhất quyết định có được cưới người con gái này hay không, cha mẹ đồng ý rồi mới có thể cưới vợ. Khi cưới dẫn dâu về nhà, nếu cha mẹ không thích cô dâu thì chỉ lệnh thứ 2 là có thể lệnh cho con trai bỏ vợ. Con trai dẫu có thích cô vợ như thế nào đi nữa thì cũng phải bỏ. Trái lại cũng vậy, chàng trai dẫu có ghét cô gái như thế nào đi nữa, chỉ cần cha mẹ đồng ý thì phải cưới về nhà.

Rất nhiều người hoài nghi mệnh lệnh của cha mẹ thực sự có sức mạnh to lớn như thế này hay không, có thể tùy ý quyết định trong thế giới tình cảm của thanh niên như thế hay không. Nhưng sự thực chính là như vậy. Trong “Lễ ký – Nội tắc” có chép: “Tử thậm nghi kỳ thê, phụ mẫu bất duyệt, xuất” (Con trai rất thích vợ mình, cha mẹ không vui thích thì phải bỏ vợ). Chỉ cần cha mẹ không vui thì có thể mệnh lệnh cho con trai bỏ vợ.

Mai mối là gì?

Trong ngôn ngữ cổ, mai mối gọi là ‘mưu chước’, “Mưu là bàn việc tác hợp hai họ. Chước là cân nhắc việc của hai họ”. Mai mối chính là người khảo sát hai bên nam nữ có tương xứng để hôn hối không.

Trong “Sử ký” có một đoạn sau: “Người nữ không có người mai mối mà tự lấy chồng thì không phải dòng giống của ta. Làm ô uế đời ta.” Câu nói này là của quan Thái sử Kiểu nước Cử thời Chiến Quốc nói. Con gái ông không qua mai mối, tự mình gả cho Pháp Chương, Thái tử nước Tề khi đó đang lưu vong. Mặc dù sau này Pháp Chương trở về nước Tề thành Tề Tương Vương, con gái của quan Thái sử nước Cử thuận theo đó mà thành vương hậu, nhưng Thái sử nước Cử trước sau cũng không chấp nhận việc hôn nhân của con gái không có người mai mối. Ông thà cắt đứt quan hệ cha con với con gái chứ không vì con gái là vương hậu mà thấy vẻ vang.

Như thế có thể thấy, tác dụng của lời nói của người mai mối có quan hệ đến lợi ích của hai dòng tộc, khiến quan hệ lợi ích hai bên được công khai hóa và hợp lý hóa. Hôn nhân thiếu lời nói người mai mối cũng tự nhiên thiếu đi tính hợp tình hợp lý, cho nên liên minh lợi ích như thế này cũng sẽ bị chất vấn và phản đối. Đương nhiên lời nói người mai mối vẫn còn có một tác dụng nữa, đó chính là làm thích nghi và giảm xung động, cho dù hai bên không đạt được đồng thuận hôn nhân thì cũng không đến nỗi thành kẻ thù địch.

Bắt đầu từ thời Tây Chu, mai mối đã trở thành cơ cấu nhà nước hợp pháp, chức năng chủ yếu là “Phán xét, tác hợp cho muôn dân, xử lý vấn đề hôn nhân trong dân, vì vậy cơ cấu này được gọi là “Môi thị” (môi giới). Đến thời Nam Tống, mai mối không chỉ phục vụ hôn nhân cho người dân ở tầng dưới mà còn nắm việc hôn nhân của hoàng thất. Người mai mối chuyên phục vụ cho hoàng thất gọi là “quan môi” (môi giới nhà nước).

Đến thời nhà Nguyên, người mai mối trở thành bộ phận tổ thành có hiệu lực pháp luật trong nguyên tố xã hội. Chính phủ nhà Nguyên quy định “Lệnh cho quan ty các nơi sai người mai mối thông báo những trường hợp không nên thành hôn, còn lấy sổ sách viết cam kết không vi phạm để giải quyết tận gốc việc tố tụng.” Điều đó có nghĩa là những người mai mối các địa phương đều phải tiếp nhận đào tạo pháp luật ở mức độ nhất định, hiểu lệnh cấm và khoan dung của chính phủ đương triều về vấn đề hôn nhân. Hơn nữa người mai mối còn phải nộp cho chính phủ địa phương một bản cam kết đảm bảo hôn nhân không vi phạm pháp luật, để tránh gây ra những tranh chấp pháp luật. Như vậy hôn nhân đã có pháp luật nhà nước quản lý giám sát. So với trước kia chỉ là chế độ cử hành nghi lễ dân gian thì đã tiên tiến hơn rất nhiều rồi.

Đến thời Dân Quốc là đã bắt đầu bước vào thời đại “luật hôn nhân” rồi.

Được cha mẹ đôi bên đồng ý và sự nỗ nực của người mai mối, giai đoạn có tính cơ sở của hôn nhân đã hoàn thành. Tiếp ngay sau đó là giai đoạn thực chất của hôn nhân: “Tam thư lục lễ”.

Từ khi hình thành lễ nghi hôn lễ đời Tây Chu đến nay, “Tam thư lục lễ” đã trở thành kinh điển nghi thức từ cổ xưa đến nay, nét văn hóa tục lệ dân gian có giá trị lịch sử.

Cái gọi là Tam thư là chỉ Sính thư, Lễ thư và Nghênh thân thư. Sính thư giấy viết định thời gian việc thành hôn, được coi như bản khế ước đính hôn. Lễ thư là giấy viết các việc khi làm hôn lễ cho nhà gái, giấy có viết số lượng và tên gọi các lễ vật. Nghênh thân thư là giấy ghi thời gian đón dâu chính thức.

Cái gọi là Lục lễ là chỉ Nạp thái (lễ đặt vấn đề hôn nhân, dạm ngõ), Vấn danh (lễ hỏi tên tuổi, thân thế), Nạp cát (lễ tiếp nhận xem tuổi hai bên, đính hôn), Nạp chinh (lễ nhận lễ vật), Thỉnh kỳ (lễ định ngày cưới), Thân nghênh (lễ rước dâu).

Tam thư lục lễ thực hiện trước lễ Thân nghênh.

Nạp thái tức là trên cơ sở hôn nhân nói trên, tức được mệnh lệnh đồng ý của cha mẹ và lời nói của người mai mối, nó là tiền đề căn bản cho để thực hiện Tam thư lục lễ. Nhà trai đặt vấn đề hôn nhân với nhà gái. Sau khi nhà gái đồng ý, nhà trai tiến hành lễ Nạp thái với nhà gái. Thông thường nhà lễ vật Nạp thái nhà trai tặng là một đôi chim nhạn sống. Chim nhạn khi trời lạnh thì bay về phương nam, khi ấm lại trở về phương bắc, được coi là thuận ứng với đạo âm dương giữa trời đất. Hơn nữa chim nhạn kết đôi trung trinh không đổi thay, một con chết thì con còn lại sẽ cô độc đến già. Nạp thái tặng chim nhạn chính là biểu đạt tâm nguyện tốt đẹp thuận ứng với âm dương tự nhiên, trung trinh đối với hôn nhân.

Vấn danh thực ra không phải là hỏi tên người nữ mà là ngày, giờ, tháng, năm sinh (sinh thần bát tự). Cần xem ngày giờ sinh của người nữ hợp với người nam thì mới có thể thành hôn.

Nạp cát là lễ tiếp sau Vấn danh. Lễ này tương đương với lễ đính hôn ngày nay. Nhà trai thông báo kết quả tốt lành cho nhà gái sau khi xem tuổi sau lễ Vấn danh, đồng thời nhà trai đích thân đem lễ vật đến cho nhà gái để ký kết hôn ước. Lễ phật lúc này đa phần là đồ trang sức, khí cụ, lụa v.v.. Bày tỏ trong tương lai không xa sẽ chính thức nghênh đón cô gái.

Nạp chinh tiếp ngay sau đó. Nhà trai trong quá trình này cần phải đem tất cả những sính lễ đến tặng nhà gái, lễ tiết khá phức tạp. Sau đó nhà gái sẽ trả lại một phần sính lễ, hoặc là mua lễ vật mới tặng nhà trai, hoặc là tặng quần áo giày tất mà cô gái đích thân làm cho chàng trai. Số lượng sính lễ và hồi lễ thông thường là 8 loại, phần nhiều đều có tên gọi cát tường như ý.

Thỉnh kỳ là khâu thứ 5. Từ cái tên có thể thấy nghĩa là nhà trai tính ra ngày tốt kết hôn, mời nhà gái xem. Khâu này tuy không phức tạp nhưng lại rất thú vị. Mọi người xưa nay đều rất cầu kỳ coi trọng ngày tốt, việc hiếu hỉ cưới xin đều phải chọn ngày tốt lành thuận lợi. Nhưng kết quả bói toán từ xưa đến nay luôn luôn thay đổi theo phương pháp xem, 10 thầy bói có thể tính ra 10 ngày lành khác nhau. Sau này lưu hành phép tính theo âm dương ngũ hành, kết quả bói toán sai khác nhau ít. Tính toán ngày lành chủ yếu là tránh những ngày đại hung, thậm chí còn phải tránh những năm không tốt lành.

Thân nghênh là khâu cuối sau Thỉnh kỳ. Chú rể đón cô dâu về nhà, làm lễ hợp cẩn, bách niên hảo hợp. Quá trình này rất phức tạp, chú rể phải ngồi xe ngựa đến nhà cô dâu, bái kiến cha mẹ cô dâu và tất cả họ hàng thân thích. Trước khi cô dâu lên xe, chú rể phải đi quanh xe ngựa 3 vòng, sau đó đi trước dẫn đường về nhà. Cô dâu được các phù dâu đi theo tháp tùng. Xe ngựa cô dâu là do nhà gái tự chuẩn bị, sau khi thành hôn 3 tháng thì nhà trai đích thân đem trở lại nhà gái, gọi là “phản mã” (xe ngựa trở về).

Điều đáng nói là một số chi tiết của hôn lễ như phu thê bái đường. Bái đường hình thành từ thời nhà Đường. Trước đó thì phu thê hành lễ không ở trên đường. Sau đó là phu thê “đối bái” (bái nhau). Trong nghi lễ cổ thì người nữ bái trước, người nam bái đáp lễ, sau 4 lượt thì xong lễ, gọi là “đối bái”. Trong phòng cưới (động phòng), phu thê phải uống rượu hợp cẩn. Cẩn là chỉ một trái bầu cắt làm hai cái gáo, phu thê mỗi người một nửa dùng để chứa rượu gọi là tữ. Dần dà tữ và cẩn được đơn giản hóa thành ly rượu, nhưng lễ nghi thì vẫn giống nhau. Người nam uống xong cầm ly rượu úp xuống, biểu thị nam tôn nữ ti, thuận ứng âm dương.

Cùng với tốc độ sản xuất và nhịp sống không ngừng tăng nhanh, lục lễ dần dần thu nhỏ cắt giảm. Thời Bắc Tống trở thành tứ lễ, thời Nam Tống trở thành tam lễ, và được áp dụng đến thời Minh Thanh. Nhưng bất kể là lục lễ được thu giảm như thế nào thì nam tôn nữ ti đều không thay đổi. Từ khâu đầu tiên trong lục lễ, nhà trai luôn ở vị trí chủ đạo, chủ động, nhà gái chỉ cần thuận ứng theo.

Sự hình thành Tam thư lục lễ là sự trầm lắng của văn minh Trung Hoa, cũng tiêu biểu cho sự thăng hoa của trình độ văn minh, từng đời từng đời được truyền thừa mấy nghìn năm, nguyên nhân căn bản của nó vẫn là văn minh và lý tính.

Trong xã hội hiện đại, những lễ nghi cổ xưa và văn minh này có rất nhiều trình tự đã bị vứt bỏ. Những thứ bị vứt bỏ không chỉ đơn giản là trình tự lễ nghi, mà là vứt bỏ tinh túy văn hóa có nội hàm thâm sâu được cô đọng trong văn minh Trung Hoa. Kéo dài như thế mãi khiến cho mọi người giảm mức độ coi trọng đối với hôn nhân. Lòng người không như xưa, đùa giỡn với hôn nhân, ngoại tình, bao tình nhân v.v.. đủ mọi chuyện. Nhất là ở với nhau chưa cưới xin, liên tiếp phá thai vẫn không coi là điều sỉ nhục, mà lại cho là chuyện thường tình. Hôn nhân vô đạo đức khắp nơi, cuối cùng dẫn đến tỷ lệ ly hôn liên tục tăng, tăng cao không giảm. Tất cả đều có quan hệ cực lớn với việc phủ định văn hóa truyền thống.

Cuối cùng, chúng ta hãy so sánh một chút. Hôn nhân của người hiện đại với người cổ đại thì cái nào văn minh và lý tính hơn, chẳng phải nhìn qua là đã rõ cả rồi đó sao?


Bản tiếng Hán: http://big5.minghui.org/mh/articles/2012/3/12/中華傳統婚禮──「三書六禮」-254113.html

Đăng ngày 15-04-2019; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share