Từ hội thảo chia sẻ kinh nghiệm tu luyện Pháp Luân Đại Pháp Úc Châu 2009

Bài viết của Wang Ying, ở Melbourne, Úc châu

Kính chào Sư Phụ tôn kính, chào các bạn đồng tu!

Tôi là một học viên lâu năm đã đắc Pháp ở Trung Quốc năm 1996. Tôi luôn cảm thấy rằng tôi đã tu luyện không tốt nên tôi nghĩ tôi không có nhiều điều để viết. Tôi không biết làm sao để xứng đáng với sự cứu độ từ bi của Sư Phụ. Nhưng để ủng hộ cho các bài chia sẻ kinh nghiệm của các đệ tử Đại Pháp Đại Lục, được khuyến khích bởi các bạn đồng tu tôi đã đặt bút viết và liên tục chỉnh sửa những suy nghĩ xấu của mình. Bất kể là tôi tu giỏi hay dở như thế nào, mỗi một niệm chân chính mà tôi có trên con đường tu luyện của mình đều được ban cho tôi bởi Đại Pháp. Mỗi bước đi chân chính mà tôi đã đi đều nhận được sự giúp đỡ của Sư Phụ. Tôi phải chứng thực Đại Pháp và ngợi ca Sư Phụ. Chính Pháp đã tiến đến giai đoạn cuối. Tôi phải trân quý có hội này và nói với Sư Phụ về điều mà tôi đã học được trong sự tu luyện của mình. Đây cũng là điều mà Sư Phụ cho phép chúng ta làm.

Tháng 5 năm 1996, một người bạn của tôi giới thiệu với tôi quyển Chuyển Pháp Luân. Điều cô ấy nói lúc đó đã để lại cho tôi một ấn tượng đặc biệt. Cô nói: “ Sư Phụ của Pháp Luân Công đến để đưa người lên cao tầng. Ngay cả khi đọc quyển sách này, nếu bạn không tu luyện, bạn sẽ biết làm sao để làm một người tốt. Bạn nên xem qua.” Những lời của cô ấy đã làm tôi cảm động, nên tôi đã mượn cô ấy quyển Chuyển Pháp Luân. Tôi nghĩ nó thật sự tốt sau khi đọc và tôi cũng muốn tập luyện. Nhưng tôi không biết liệu có điểm luyện công nào gần đây không. Trong kỳ nghỉ hè năm 1996, một buổi sáng tôi đã thức rất sớm. Không suy nghĩ nhiều, tôi đi xuống lầu và đi ra công viên để đi bộ. Ở đó, tôi đã nhìn thấy một nhóm người đang ngồi thiền thành một vòng tròn. Tôi tới gần một lão bà và hỏi có phải họ đang tập Pháp Luân Công. Bà đã nói phải. Tôi hỏi: “Bà có thể dạy cháu không?” Bà nói: “Tất nhiên”. Bà đã nói với tôi rằng hàng ngày họ bắt đầu tập lúc 5h40 sáng. Tôi nói với bà tôi không thể dậy sớm như vậy. Bà nói: “Khi cháu muốn tập, cháu có thể dậy sớm”. Bà nói them: “ Nếu cháu muốn tu luyện, cháu cũng nên có một quyển Chuyển Pháp Luân.” Bà đã nói cho tôi chỗ để mua sách. Sáng hôm sau tôi đã thức dậy và đến điểm luyện công đúng giờ, nơi đó tôi đã chính thức bắt đầu tu luyện Đại Pháp.

Khi bắt đầu tu luyện, tôi được đắm mình trong phật ân vô biên của Sư Phụ. Tâm tôi tràn đầy ánh sáng. Trong tu luyện Đại Pháp, tôi đã hiểu rằng ý nghĩa thực sự của cuộc đời là “phản bổn quy chân”. Qua tu luyện tôi đã hiểu rằng một người có thể thăng tiến về thể chất và tinh thần. Tôi hiểu được lý do tại sao mà một sinh mệnh nên theo tiêu chuẩn Chân Thiện Nhẫn và tại sao con người phải coi trọng Đức và là một người tốt ở mọi phương diện trong công việc và trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Tôi đã có một thân thể và tinh thần khoẻ mạnh và một gia đình hoà thuận. Nhưng lợi ích lớn nhất của tôi là sự thăng tiến về tâm tính và sự nâng cao chuẩn mực đạo đức của tôi.

Năm 1999, cuộc bức hại tàn bạo Đại Pháp và đệ tử Đại Pháp diễn ra. Vào sáng ngày 21 tháng 7, tôi tới Phòng thỉnh nguyện của nhà nước. Buổi chiều, chúng tôi đã bị giam giữ ở Trung tâm thể thao Fengtai, và tối hôm đó chúng tôi bị đưa đến văn phòng Dongcheng của Uỷ ban an ninh công cộng. Một người nhìn giống như thủ trưởng đã yêu cầu rằng không ai được xuất hiện lại ngày hôm sau. Ông ta đe doạ nếu chúng tôi không tuân lệnh, Đảng Cộng sản, mà được hình thành bởi 60 triệu đảng viên, và quân đội của nó sẽ xử lý việc này. Tôi đã được thả ra vào đêm hôm đó. Những thành viên gia đình tôi đã cực kỳ lo lắng cho tôi. Họ đã cố thuyết phục tôi không nên đi thỉnh nguyện nữa. Ngày hôm sau tôi đã sẵn sàng đi làm. Tôi có một cuộc hẹn với một sinh viên và định mua một đôi kính. Khi tôi chuẩn bị bước ra khỏi cửa, mẹ tôi đã nài nỉ tôi không được đi đến phòng kháng cáo thỉnh nguyện nữa. Bà nói: “Con của con còn nhỏ. Hãy đợi cho đến khi nó lớn, và khi đó con có thể làm bất cứ điều gì con muốn, và mẹ sẽ không ngăn cản con.” Tôi đã không định tới phòng kháng cáo thỉnh nguyện hôm đó, nên tôi đã đồng ý với bà. Tôi cầm theo cặp kính và bắt xe buýt đi làm. Khi xe buýt tới lối vào phố Xisi, các phương tiện đã đi chậm lại. Các đường phố đầy người đứng thành hàng ngũ. Một bên được sắp thành hàng bởi các học viên, những người đến từ khắp nơi trên toàn quốc để thỉnh nguyện. Phía bên kia chen chúc những người xem. Có nhiều học viên tới mức họ trải dài suốt dọc đường cho đến phố Xidan. Cảnh sát đã vây quanh các học viên. Những người trên xe buýt nói: “Đây là Pháp Luân Công”. Tim tôi đập thình thịch khi tôi nghe thấy điều đó. Bỗng nhiên một suy nghĩ nổi lên, tôi là một học viên Pháp Luân Công. Có thể tôi rất yếu và có thể tôi không làm được gì, nhưng tôi là một lạp tử của Đại Pháp và tôi nên đứng lên.” Lúc đó tôi cảm thấy giống như tôi được bao bọc trong một trường năng lượng mạnh mẽ. Tôi ra khỏi xe buýt, đi về phía mà cảnh sát đã vây quanh các học viên, và đã đứng vào chỗ các học viên đang thỉnh nguyện. Tối hôm đó chúng tôi đã bị mang trở lại đồn cảnh sát. Chúng tôi được thả vào lúc nửa đêm. Trên đường về nhà, tôi từ nghĩ rằng chồng tôi sẽ la mắng tôi vì về nhà muộn như vậy. Anh ấy chắc là lo lắng lắm vì anh không thể tìm thấy tôi. Chắc chắn anh sẽ mắng chửi tôi.

Nhưng tôi nghĩ về lời của Sư Phụ trong “Vị trí” trong Tinh Tấn Yếu Chỉ II:
“Những khảo nghiệm mà một người tu luyện trải qua là điều mà người thường không cách nào chịu đựng nổi, do đó những ai tu thành viên mãn trong lịch sử là hết sức thưa thớt ít ỏi. Con người vẫn là con người, vào thời điểm then chốt họ rất khó vứt bỏ quan niệm của con người, mà lại cứ tìm cho ra những cái cớ để thuyết phục bản thân. Nhưng một người tu luyện vĩ đại có thể trong khảo nghiệm trọng đại, mà vứt bỏ tự ngã, cho đến hết thảy tư tưởng của người thường..”

Khi tôi nghĩ về điều này, tôi cảm thấy thanh tịnh. Khi tôi về nhà, chồng tôi đã gào thét tôi: “Em còn muốn cái gia đình này không? Anh đã cố tìm em và gần bị bắt. Em có biết điều đó không?” Tôi không dao động và bình tĩnh trả lời: “Tất nhiên em muốn gia đình này. Đừng lo lắng cho em, em có Sư Phụ.”

Anh ấy đã nhanh chóng bình tĩnh trở lại và nói: “Ông chủ của em đã gửi một lời nhắn–Từ giờ trở đi chắc chắn là em phải cẩn thận trong công việc và không nói bất kể điều gì. Ở nhà, em có thể tập luyện như thế nào em muốn. Bên ngoài, đừng nói một điều gì. Con người ngày nay phức tạp lắm, em không biết được điều mà người ta nghĩ đâu.” Tôi trả lời: “ Anh đừng lo, em biết phải làm gì.”

Từ đó trở đi, chúng tôi mất đi môi trường học Pháp và luyện công nhóm. Tôi đã không thể tinh tấn trong việc học Pháp một mình. Tôi thậm trí không thể đọc hết một chương của Chuyển Pháp Luân trong vài ngày. Tôi sợ khi nhìn thấy quá nhiều học viên bị bắt và bị bức hại. Tôi có thể vào các trang web Đại Pháp, nhưng tôi đã không dám. Tôi cố ý né tránh chúng và buông lơi sự tu luyện của mình trong một khoảng thời gian, đắm chìm vào cuộc sống người thường. Vào ngày 26 tháng 9 năm 2000, Trang Minh Huệ (tiếng Trung) đã đăng một bài viết từ ban biên tập có tên là “ Những lời dạy nghiêm túc – được ghi lại từ buổi nói chuyện gần đây của Sư Phụ”.

Sư Phụ nói:
“Tôi cảm thấy tiếc cho những người không thể bước ra khi đối mặt với những khảo nghiệm trọng đại trong khổ nạn, và họ dùng những lý do khác nhau để che dấu cho sự sợ hãi của họ.”
Sư Phụ cũng nói:
“Tại sao một người học Đại Pháp? Những người chỉ muốn được lợi ích từ Đại Pháp, và họ xem Đại Pháp như một tấm lá chắn bảo vệ. Khi Đại Pháp bị bức hại, khi các đồ đệ bị bắt, bị bức hại, và bị đánh đến chết để bảo vệ Đại Pháp, thì họ đang làm gì? Khi Sư Phụ của họ bị phỉ báng, thì họ đang làm gì? Có phải họ đang chờ điều gì tốt đẹp rơi từ trời xuống? Có phải họ đang đợi để đạt Viên mãn khi khổ nạn kết thúc? Tôi thực sự lo lắng cho họ. Họ không biết hoàn cảnh nguy hiểm như thế nào cho sinh mệnh thực sự của họ!”

Sư Phụ đang nói về tôi. Tôi cảm thấy đau đớn quá. Tôi ghét bản thân mình vì đã không tu luyện tinh tấn trong thời gian lâu như vậy và đã lãng phí quá nhiều thời gian. Tôi đang ẩn nấp vì sợ hãi. Lúc đó, người học viên khác duy nhất ở cùng với tôi cũng đã bị bắt. Tâm sợ hãi, chấp trước vào tình cảm, và cảm giác cô đơn của tôi đã làm cho tôi không thể ngủ trong vài ngày. Tim tôi đau nhói. Đau đớn xuyên thấu vào tận tâm can và xương tuỷ. Tôi cảm thấy như thể là tôi bị bao bọc bởi một vật chất vô hình, làm tôi nghẹt thở. Nước mắt tôi chảy dài khi tôi nhìn ảnh của Sư Phụ và nói: “ Sư Phụ, đệ tử đã không sống theo tiêu chuẩn. Con sợ rằng con sẽ không làm nổi.”

Trong “Bài trừ can nhiễu”, Tinh Tấn Yếu Chỉ II, Sư Phụ dạy:
“Pháp có thể phá hết thảy chấp trước, Pháp có thể phá hết thảy tà ác, Pháp có thể phá trừ hết thảy lời dối trá, Pháp có thể kiên định chính niệm.”

Tôi đã nhận ra rằng tôi phải nắm lấy thời gian này để học Pháp. Chỉ có Pháp mới có thể đột phá qua cái vỏ con người này. Chỉ có Pháp mới có thể giúp chúng ta bước ra khỏi con người. Do vậy, tôi đã dành bất kể thời gian nào mà tôi có để học Pháp. Mỗi lần tôi mở Chuyển Pháp Luân ra, tôi luôn gặp đoạn này:

“Chư vị là một người tu luyện chân chính, Pháp Luân của chúng tôi [sẽ] bảo hộ chư vị. Gốc của tôi gắn trên vũ trụ, ai có thể động tới chư vị, người ấy có thể động đến tôi; nói thẳng ra, người ấy có thể động đến vũ trụ này.”

Qua học Pháp liên tục, nhiều chấp trước đã yếu đi. Tâm sợ hãi của tôi cũng giảm bớt. Sau đó, với những điểm hoá của Sư Phụ, tôi đã mua một cái máy in và bắt đầu tải xuống các bài giảng của Sư Phụ và những tài liệu giảng rõ sự thật.

Tôi đã in chúng và đưa cho các học viên ở gần tôi. Chúng tôi không có chương trình nào để đột phá qua sự phong toả Internet. Chúng tôi đã vào trang Minh Huệ qua một máy chủ hải ngoại. Máy chủ cũng bị phong toả sau một thời gian, nhưng sau đó, tôi luôn tìm ra một máy chủ khác hay một cách khác để truy cập vào internet. Tôi đã dùng thời gian rỗi của mình để chuyển tài liệu cho các học viên khác và treo những áp phích quảng cáo. Lần đầu tiên khi tôi đi phát tài liệu, tôi hơi sợ. Tim tôi đập mạnh. Khi tôi đi làm nhiệm vụ, tôi đã đọc thuộc lại một bài thơ trong Hồng Ngâm có tiêu đề “Uy Đức”:

“Đại Pháp bất ly thân,
Tâm tồn Chân Thiện Nhẫn;
Thế gian nhân La Hán,
Thần quỷ cụ thập phân.”

Tâm tôi trở nên kiên định sau khi tôi đọc nhẩm nó nhiều lần. Lúc đó tôi không biết chính niệm là gì. Tôi chỉ tự nhủ: “ Tôi đến để mang lại may mắn cho các bạn.” Mỗi khi tôi trở về nhà an toàn dưới sự bảo hộ của Sư Phụ. Vật chất sợ hãi dần dần tiêu giảm đi.

Sáng ngày 23 tháng 1 năm 2001, ngày Tết năm mới, những người từ Phòng 610, những quan chức từ phòng giáo dục, và thư ký trường học–tổng cộng khoảng 7-8 người–muốn nói chuyện với tôi ở phòng hội thảo. Họ muốn tôi từ bỏ tu luyện. Tôi nói với họ rằng, sau khi tu luyện Đại Pháp, tôi đã khoẻ mạnh hơn và hạnh phúc hơn. Tôi nói rằng tuyên truyền của ĐCSTQ tất cả đều là dối trá và lừa gạt. Một thư ký từ uỷ ban giáo dục nói: “Nếu ai đó bảo chị làm điều này điều kia, chị không làm nó.” Tôi nói: “ Làm sao mà tôi có thể cứ làm điều mà người khác bảo tôi làm? Tôi có bộ óc riêng của mình. Tôi sẽ làm các việc theo tiêu chuẩn Chân Thiện Nhẫn.” Một vài ngày sau đó, truyền hình TV phát sóng sự kiện tự thiêu.

Ký nghỉ tháng 5 năm 2001 vừa trôi qua. Ngày đầu tiên trở lại làm việc, thư ký trường muốn gặp tôi trong phòng vào buổi chiều. Trên thực tế, những người chịu trách nhiệm đã muốn gửi tôi đi trại tẩy não. Năm phút trước khi tôi rời đi, một đồng nghiệp đã chạy đến nói với tôi: “Tôi không biết họ muốn gửi chị đi đâu”. Ngay lập tức tôi nghĩ: lớp tẩy não. Tôi cảm thấy rõ ràng đây là điểm hoá của Sư Phụ và, dưới sự bảo hộ của Sư Phụ, tôi đã thoát đi đúng lúc. Sau khi tôi rời đi, uỷ ban an ninh công cộng và trường học đã tìm kiếm tôi khắp nơi. Họ phái người theo dõi nhà tôi và nhà bố mẹ tôi. Tôi đã rời khỏi nhà. Con trai của tôi lúc đó mới chỉ ba tuổi rưỡi.

Tôi đi đến một thành phố ở miền nam. Dưới sự chăm sóc của Sư Phụ, tôi đã gặp một học viên nhiều tuổi hơn cũng đã rời khỏi nhà. Chúng tôi đã không thể liên lạc với bất kỳ học viên địa phương nào. Đầu tiên, chúng tôi sống trong một nhà thuê và học Pháp. Chúng tôi không đi ra ngoài nhiều. Chúng tôi sợ bị phát hiện. Chúng tôi đã không thể đọc các bài thuyết giảng mới của Sư Phụ và các bài viết trên Minh Huệ. Tôi đã có một tư tưởng: “Ở đâu có người, ở đó có Pháp.” Sau một lúc, chúng tôi đã nhận được những bài mới được gửi đến từ các bạn học viên và đã tìm ra một cách để truy cập vào trang Minh Huệ. Chúng tôi đã bắt đầu đi tới các quán cà phê internet để vào internet, cho phép chúng tôi đọc các bài thuyết giảng mới nhất của Sư Phụ đúng lúc. Mỗi khi Sư Phụ xuất bản một bài viết mới, chúng tôi liên tục copy nó, đọc đi đọc lại nó, và cố gắng để hiểu nó. Khi chúng tôi gặp một bài viết ngắn, chúng tôi sẽ học thuộc nó. Sau khi đọc các bài chia sẻ của các học viên khác, chúng tôi đã nhận ra rằng chúng tôi phải đột phá qua quan niệm rằng chúng tôi phải ẩn nấp. Chúng tôi đã đi ra ngoài để giảng rõ sự thật. Lý do gì mà tôi đã bỏ chạy và thoát khỏi khoá tẩy não? Chẳng phải đó là để tôi có thể chứng thực Đại Pháp và làm điều mà đệ tử Đại Pháp phải làm sao? Nếu tôi cứ tiếp tục ẩn nấp, liệu tôi có còn là một đệ tử Đại Pháp không? Do vậy tôi đã mua một máy tính cũ và một máy in cũ. Hàng ngày tôi đã tải xuống các bài viết trên Minh Huệ ở quán cà phê internet. Khi tôi về nhà, tôi chỉnh sửa lại các tài liệu giảng rõ sự thật và tự in chúng ra. Từ các tờ báo, tạp chí, và trang web Minh Huệ, tôi đã sao chép ra nhiều địa chỉa email và gửi thư tới những địa chỉ này. Tôi phát chính niệm trước khi tôi gửi mỗi một bức thư này để mỗi bức thư sẽ đến nơi an toàn, cho phép người nhận hiểu sự thật. Tôi viết những lá thư giảng rõ sự thật cho những đồng nghiệp ở sở làm, nói với họ về cuộc bức hại mà tôi đã phải chịu đựng và những sự cải thiện mà tôi đã trải qua sau khi bắt đầu tu luyện. Chúng tôi đã đi hết nơi này đến nơi khác như điều mà Sư Phụ đã làm khi Sư Phụ truyền Pháp ở những địa phương khác nhau. Chúng tôi đã chuẩn bị tài liệu giảng rõ sự thật và đi từ thành phố này đến thành phố khác để giảng rõ sự thật. Chúng tôi đã tới nhà họ hàng, bạn bè. Chúng tôi đến thăm tất cả những gia đình, bạn bè mà chúng tôi biết, và thậm trí tới cả một ngôi làng nhỏ vùng nông thôn mà ở đó người học viên kia đã từng được gửi tới làm việc trong thời Cách mạng văn hoá. Trên tàu hoả và trên xe ngựa, cả hai chúng tôi đều cùng nhau làm việc. Một người phát chính niệm, trong khi người kia giảng rõ sự thật từ quan điểm của người thứ ba. Nếu một người không thể giảng rõ sự thật đầy đủ, người khác sẽ bước vào bổ sung.

Khi bài viết “ Lộ” được đăng lên, tôi cảm thấy mạnh mẽ hơn về tính nghiêm túc của tu luyện. Trên con đường tu luyện, không có con đường nào đã được đắp trước và nó không phải là một con đường dễ dàng. Cứ khi nào tôi đi cùng với người học viên kia, tôi có một cảm giác tin cậy nương tựa mạnh mẽ. Tôi luôn nghĩ người học viên này đã tu luyện tốt và có ngộ tính tốt. Thường thường, học viên này đi trước, trong khi đó tôi đi theo đằng sau.

“Làm người tu luyện, thì không có khuôn mẫu; con đường mỗi cá nhân đi theo đều khác nhau; bởi vì cơ sở mỗi cá nhân là khác nhau, sự to nhỏ của các chủng tâm chấp trước là khác nhau, đặc điểm sinh mệnh là khác nhau, công tác nơi người thường là khác nhau, hoàn cảnh gia đình là khác nhau, v.v; các nhân tố [như thế] đã quyết định con đường tu luyện của mỗi cá nhân là khác nhau, trạng thái vứt bỏ tâm chấp trước, sự lớn nhỏ khi vượt quan là khác nhau; do đó trên biểu hiện [ta] rất khó [có thể] tìm ra con đường tốt mà người khác đã đắp, lại càng không có khả năng lên xe ở đó. Nếu như thật sự có con đường đã đắp tốt và xe chạy thuận chiều gió, thì quyết không phải là tu luyện.”

“Tu luyệt thật khó; khó [là ở chỗ] bất kể khi trời đổ đất sụp, tà ác điên cuồng bức hại, [lúc] liên quan đến sống chết, vẫn có thể vững vàng tiến bước trên con đường tu luyện của [bản thân] chư vị; bất kể sự việc gì ở xã hội nhân loại đều không can nhiễu được đến bước đi đều chân trên con đường tu luyện.” (“Lộ” trong Tinh Tấn Yếu Chỉ II)

Học Pháp đã giúp tôi nhận ra rằng dựa vào tư tưởng của người khác giống như vẫy xin đi nhờ xe của người khác. Không có con đường tắt trong tu luyện. Bạn đi một bước thì sẽ để lại dấu chân của mình. Chúng tôi luôn truy cập vào internet qua quán cà phê Internet vì chúng tôi luôn luôn di chuyển. Khi chúng tôi xem các bài viết trên Minh Huệ và các bài kinh văn của Sư Phụ, chúng tôi nghĩ về một nơi để có thể in chúng ra. Tuy nhiên, in tài liệu giảng rõ sự thật thật không dễ dàng. Tôi đã ngộ ra rằng tôi phải đi trên con đường riêng của mình. Trong khi học Pháp Sư Phụ đã điểm hoá rằng tôi nên dùng mạng internet để làm sáng tỏ sự thật. Chúng tôi đã thu thập một lượng lớn địa chỉ email và gửi email giảng rõ sự thật cho họ. ĐCSTQ đã dần dần thắt chặt việc phong toả Internet. Họ bắt đầu kiểm soát các quán cà phê internet ngày càng chặt chẽ hơn. Đôi khi rất khó để online và tâm tôi bắt đầu dao động. Tim tôi đập nhanh hơn và thỉnh thoảng tay tôi lại run lên khi tôi di chuyển chuột. Bạn đồng tu của tôi ngồi bên cạnh tôi và phát chính niệm. Cô ấy đã động viên tôi đừng sợ hãi, và phải kiên định. Tôi đã sửa chữa trạng thái tâm lý của mình khi tôi phát chính niệm và tôi đã trở nên kiên định. Dưới sự gia tăng sức mạnh của Sư Phụ, tôi đã đột phá qua sự phong tỏa internet.

“‘Tu tại tự kỷ, công tại sư phụ’; chư vị chỉ cần nguyện vọng [tu luyện] là đủ rồi. Mà chân chính làm việc ấy là sư phụ cấp cho [chư vị], chư vị hoàn toàn không làm được..” (Chuyển Pháp Luân)

“Chư vị có tự mình làm được điều ấy không? Không làm được. Điều ấy là do sư phụ an bài, sư phụ làm cho; do đó mới nói là tu tại tự kỷ, công tại sư phụ. Chư vị chỉ cần tự mình có nguyện vọng như thế, mong muốn như vậy; [còn] sự việc chân thực là do sư phụ làm giúp.” (Chuyển Pháp Luân).

Tôi đã trải nghiệm được rằng, khi tôi có tâm làm điều gì đó, Sư Phụ sẽ giúp tôi. Một lần, tôi bị chính quyền nhìn thấy khi đang dùng Internet ở một quán cà phê trong một thị trấn nhỏ, và chúng tôi đã bị theo dõi sau khi chúng tôi rời đi. Chúng tôi phát chính niệm và dưới sự bảo hộ của Sư Phụ, chúng tôi đã thoát khỏi họ.

Khi tôi sống trong cảnh vô gia cư một năm rưỡi, tôi đã trải qua những hoàn cảnh khác nhau và gặp nhiều người khác nhau. Những người họ hàng hiểu sự thật đã bảo vệ tôi, những người họ hàng sợ bị liên luỵ đã xua đuổi tôi, những người khác không hiểu sự thật đã tố giác tôi, và thậm trí những băng đảng tội phạm mafia cũng cố tống tiền tôi. Tôi bị theo dõi. Nhưng cuối cùng, chúng tôi đã sống sót dưới sự bảo hộ từ bi của Sư Phụ. Qua tất cả những đau khổ và niềm vui mà tôi đã trải qua, tôi dựa vào Sư Phụ, học Pháp nhiều, ghi nhớ học thuộc Pháp, và các bài chia sẻ của các học viên trên Minh Huệ đã giúp tôi tiến về phía trước từng bước một. Sau đó, từ những nguyên lý của Pháp tôi đã hiểu rằng tình trạng không nhà cửa không phải là con đường mà Sư Phụ an bài cho tôi. Mặc dù tôi đã chống lại ma quỷ, nhưng về cơ bản tôi đã đi theo con đường được an bài bởi cựu thế lực. Tôi im lặng thừa nhận sự bức hại của ma quỷ. Vào thời gian này tôi cũng có một tư tưởng không đúng—rằng tôi sẽ bị bắt là không thể tránh khỏi. Ma quỷ đã lợi dụng chỉ một tư tưởng sai này và vào tháng 10 năm 2002, tôi đã bị bắt. Ở trại giam, tôi cảm thấy Sư Phụ luôn ở bên cạnh tôi trong mọi lúc. Khi những tư tưởng chân chính của tôi nổi lên, Sư Phụ sẽ giúp đỡ tôi. Nhưng vì tôi không ở trong một trạng thái tinh thần ổn định, nên tôi đã không thể thực sự tin vào Sư Phụ và Đại Pháp. Cuối cùng tôi đã bị kết án 2 năm trong trại lao động cưỡng bức, để lại một vết nhơ trên con đường tu luyện của tôi. Tháng 8 năm 2004, tôi đã trở về nhà. Trải qua cuộc sống không nhà cửa và trại lao động cưỡng bức, những thành viên trong gia đình tôi sợ tôi sẽ lại bị bức hại. Họ giám sát tôi rất chặt. Họ cố thuyết phục tôi không nên đọc các sách Đại Pháp trong thời gian này. Tôi cũng sợ hãi. Tôi đã không dám lấy sách ra đọc. Tôi sợ rằng đột nhiên ai đó sẽ đột nhập vào. Tôi sợ tôi sẽ bị bắt trở lại. Tuy nhiên, tôi vẫn luôn mong mỏi được học Pháp của Sư Phụ và theo kịp tiến trình Chính Pháp. Khi Sư Phụ thấy rằng tôi vẫn còn cái tâm này, Sư Phụ đã an bài một học viên khác gửi cho tôi một đĩa CD. Với chiếc đĩa này, tôi có thể tải xuống tất cả các sách Đại Pháp và những bài viết mới nhất trên Minh Huệ. Tôi đã học Pháp trên máy tính và đọc các bài chia sẻ kinh nghiệm của đệ tử Đại Pháp trên Minh Huệ. Hàng tuần, các học viên đã mang tới cho tôi các bài viết trên Minh Huệ trong tuần. Dần dần, sự sợ hãi của tôi và những nhân tố can nhiễu trong tâm tan biến đi.

Trong khi đó, tôi liên tục giảng rõ sự thật cho gia đình mình. Khi điều kiện thể chất của tôi thay đổi, các thành viên trong gia đình tôi đã không còn sợ sệt nữa. Một tháng sau đó, tôi đã có được phần mềm đột phá qua phong toả internet từ một học viên, và một lần nữa tôi lại truy cập được vào trang web Minh Huệ sau một thời gian dài.

Tôi đã đọc bài kinh văn của Sư Phụ “ Hãy vứt bỏ tâm con người và hãy cứu độ thế nhân”, yêu cầu tất cả các đệ tử Đại Pháp đại lục phải bước ra và giảng rõ sự thật, mang nó tới mỗi một cánh đồng và thung lũng, mỗi một ngọn núi và quả đồi. Tôi đã cố gắng giảng rõ sự thật cho người dân mặt đối mặt. Tôi đã tận dụng cơ hội để giảng rõ sự thật khi tôi đi mua đồ. Nhiều lần tôi muốn nói nhưng lại không thể nói được. Khi tôi trở về nhà tôi thấy hối tiếc. Một lần tôi tới một cửa hàng quần áo. Sau khi mua, tôi đã dồn hết can đảm để nói với người phụ nữ trẻ về vụ tự thiêu. Tôi đã nói với cô ấy về vẻ đẹp của Pháp Luân Đại Pháp. Người phụ nữ trẻ đã nói với tôi: “Trước đây, chưa có ai nói với tôi điều đó cả. Cám ơn cô.” Từ mắt cô ấy tôi có thể nhìn thấy chúng sinh đang nóng lòng chờ đợi Đại Pháp. Tôi đã đưa cho cô ấy một tờ chiếc bùa hộ mệnh và nói với cô ghi nhớ trong đầu rằng Pháp Luân Đại Pháp là tốt. Tôi đã bảo cô ấy hãy nói điều đó với bạn bè và gia đình của cô. Trên đường về nhà, cơ thể tôi cảm thấy thật là nhẹ nhàng. Đó là một loại niềm vui từ đáy lòng. Tôi biết rằng Sư Phụ đang khuyến khích tôi.

Sau đó, tôi đã trở lại làm việc. Họ đang bổ nhiệm những vị trí mới. Thư ký đã giao cho tôi vị trí lễ tân. Nhân viên lễ tân nhận mức lương thấp nhất. Tôi liên tục nhắc nhở mình rằng, là một đệ tử Đại Pháp, bất kể tôi ở đâu, tôi phải phát ra năng lượng thuần chính trong sáng. Bất kể là công việc gì, tôi phải hoàn thành tốt và chỉ khi đó tôi mới có thể biểu hiện phong thái hành vi của đệ tử Đại Pháp. Ở văn phòng, mọi người đến và đi. Tôi nhân cơ hội này để giảng rõ sự thật cho các bạn đồng nghiệp và sinh viên. Một bạn đồng nghiệp nói với tôi: “Tôi sẽ nói với mọi người rằng chị là một người tốt. Tôi biết chị tốt. Tôi tin điều chị nói.” Sau đó tôi đã ngộ ra rằng sự giáng chức của tôi là bức hại của cựu thế lực. Tôi đã phát chính niệm để chống lại sự bức hại này. Tôi sẽ bước đi trên con đường mà Sư Phụ đã an bài. Không lâu sau, Sư Phụ đã an bài cho tôi chuyển đến một vị trí khác. Mức lương của tôi tăng gấp đôi. Ở vị trí này tôi có thể tự do truy cập vào internet và tải xuống mọi thứ. Nhờ đặc tính của công việc, tôi đã có được rất nhiều số điện thoại và địa chỉ của nhiều người. Tôi đã gửi chúng lên trang web Minh Huệ cho các học viên hải ngoại để họ có thể gọi điện và giảng rõ sự thật cho họ.

Tháng 7 năm 2005, các học viên ở điểm sản xuất tài liệu điạ phương đã bị bắt từng người một. Điểm sản xuất tại nhà đã chuyển từ việc chỉ cung cấp tài liệu cho một số học viên mới sang in tài liệu cho mấy chục người. Sản xuất tài liệu cũng là một quá trình tu luyện. Từ việc mua sắm thiết bị tới việc duy trì và bảo dưỡng sản phẩm, chúng tôi phải làm chủ nhiều loại công nghệ khác nhau. Chúng tôi đã làm điều đó với sự bảo hộ của Sư Phụ. Tôi chịu trách nhiệm về việc tải xuống các tài liệu, sản xuất và in ấn, trong khi người học viên khác chịu trách nhiệm phân phát. Chúng tôi phối hợp rất tốt. Chúng tôi bắt đầu bằng việc chỉ in các bài kinh văn của Sư Phụ, các sách Đại Pháp, và “Tuần Báo Minh Huệ” cho các học viên. Dần dần chúng tôi bắt đầu sản xuất các tài liệu giảng rõ sự thật. Chúng tôi phân phát chúng và giảng rõ sự thật trên đường đi làm và về nhà, và trong giờ nghỉ. Khi đã có nhiều loại tài liệu, chúng tôi đã in với quy mô lớn hơn. Tâm làm các việc đã nổi lên—công việc thường lệ ban ngàys, sản xuất tài liệu vào buổi tối. Thời gian học Pháp của tôi đã giảm đi. Tôi đã không thể hấp thụ Pháp khi tôi học. Tôi cũng cảm thấy buồn ngủ. Điều này đã dẫn đến việc tôi bị bắt vào tháng 7 năm 2007. Một lần nữa tôi lại bị đưa đến trại giam. Tôi bắt đầu không còn chính niệm mạnh. Tôi đã không hợp tác với họ. Nhưng tôi đã không thể giữ vững chính niệm từ đầu đến cuối. Tôi không thể chống lại sự bức hại và can nhiễu của ma quỷ từ căn bản. Tôi đã không kiên định. Tôi có chấp trước. Tôi sợ rằng tôi sẽ lại bị đưa đến trại lao động cưỡng bức. Lúc mà tôi phát ra tư tưởng người thường này, nhân tính của tôi xuất hiện và tôi đã không thể nhớ Pháp. Một cảnh sát đã gọi tôi ra ngoài và hỏi: “ tại sao cô không ký vào tờ cam kết? Tôi nói với cô rằng, chúng tôi sẽ đưa cô vào trại lao động cưỡng bức hai năm.”

Tôi cứ sợ điều gì là điều đó xuất hiện, giống y như Sư Phụ đã nói. Những lời của Sư Phụ đã thức tỉnh tôi. Cho dù tôi có sợ hay không, có thể tôi vẫn bị đưa tới trại lao động cưỡng bức, nên tôi đã để cho Sư Phụ định đoạt. Mọi thứ được an bài bởi Sư Phụ. Ngay khi tôi có chính niệm, tôi lập tức cảm thấy rằng một tầng vật chất trong cơ thể tôi đã không tồn tại. Nó đã được Sư Phụ lấy đi. Tôi lại nhớ được Pháp. Tôi bắt đầu đọc nhẩm bài “Đừng buồn”:

Đừng Buồn

Thân thể trong tù — đừng buồn đừng phiền muộn
Chính niệm chính hành, có Pháp ở đây
Tĩnh lặng nhìn xem có bao nhiêu chấp trước
Buông bỏ tâm người thường, ma quỷ tự tiêu tan

Ngày 13 tháng 1 năm 2004

Tôi đã thanh tịnh trở lại và đã tìm thấy những chấp trước của mình. Tôi đã tìm ra nhiều chấp trước của mình. Tôi cũng tìm thấy chấp trước dâm dục, nó thật không dễ dàng để phát hiện được. Khi tôi khám phá ra chấp trước này, tôi vẫn không thể phủ nhận nó từ căn bản, đã cho phép ma quỷ lợi dụng nó. Tôi tự gây ra khổ nạn cho chính mình. Mặc dù chúng tôi dùng những phương thức của con người trong thời gian này, nhưng thực chất chúng tôi đang dưới sự che chở bảo hộ của Sư Phụ và đã nhận được sự trợ giúp to lớn từ các bạn đồng tu. Cũng vậy, vì ông chủ của tôi và các thành viên trong gia đình tôi tất cả họ đều biết sự thật, họ đã có những tư tưởng chân chính mạnh mẽ. Họ đã đi đến gặp cảnh sát và dùng luật pháp để vạch trần những hành động bất hợp pháp của những kẻ xấu, phá tan sự can nhiễu. Sau khi tôi được thả ra, ma quỷ vẫn không từ bỏ. Chúng đã báo tôi với sở cảnh sát ít nhất một lần mỗi tháng. Bố mẹ và chồng tôi đều lo lắng. Họ muốn tôi xử lý nó. Qua chia sẻ, tôi đã nhận ra đây là an bài của cựu thế lực, và tôi phải hoàn toàn phủ nhận nó. Từ đó trở đi, chính quyền đã dừng theo dõi tôi.

Tháng 1 năm 2008, theo an bài của Sư Phụ, tôi đã tới Úc và hoà mình vào cùng với các đệ tử hải ngoại chứng thực Pháp. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi tham gia một nhóm học Pháp nhỏ ở nhà một học viên, cửa nhà họ không khoá. Các học viên đến học Pháp tất cả đều cởi giầy ra và đi vào phòng. Thấy một cảnh tượng thân thiện, ấm áp như vậy, tôi cảm thấy một cảm giác khó tả nổi lên trong tâm. Nó nhắc tôi nhớ lại thời gian khi mà các học viên Trung Quốc đại lục tập trung lại thành nhóm học Pháp cùng nhau trước khi cuộc bức hại ma quỷ bắt đầu. Tôi thầm lặng cám ơn Sư Phụ vì đã ban cho tôi cơ hội này và tôi đã thề sẽ trân quý môi trường này. Ở hải ngoại, điều đầu tiên mà tôi đối mặt là phải đứng lến và vạch trần ma quỷ ở những địa điểm công cộng khác nhau. Tôi là một người hướng nội, và tôi thường không thích nói nhiều. Tôi cảm thấy thực sự khó khăn về việc phải đứng lên để vạch trần ma quỷ. Tôi nghĩ: “Tôi không phải là người diễn thuyết tốt”. Trên thực tế, sợ rằng mình không phải là một người diễn thuyết tốt là một chấp trước mạnh mẽ vào bản thân. Tôi đã nhận ra rằng tôi có chấp trước mạnh về lòng tự cao tự đại—tôi muốn giữ thể diện. Đôi khi tôi biết rõ rằng rằng đó là một khảo nghiệm, nhưng tôi vẫn né tránh nó. Tôi sợ bất cứ điều gì mà sẽ động vào chấp trước của tôi. Do vậy tôi đã nắm giữ nó rất chặt và không muốn động chạm đến nó. Lần đầu tiên một học viên đề nghị tôi phát biểu, tim tôi đã đập mạnh. Các học viên đã động viên khuyến khích tôi: “Chị có thể làm điều đó.” Họ nói: “Đó là đang vạch trần ma quỷ.” Tôi không có sự lựa chọn nào khác vì họ cần tôi, và tôi đã không thể trốn tránh ngay cả khi tôi muốn. Nên tôi đã tự khích lệ mình và đã nghiến chặt răng chờ đến lượt. Tôi biết rằng đây là lúc để buông bỏ chấp trước này. Vì tôi đã xem việc phát biểu là một cách để vạch trần ma quỷ, nên khi tôi nghĩ về bản thân mình, tôi cảm thấy nhẹ nhàng.

Khi tu luyện trong một môi trường thoải mái, mặc dù tôi không có tâm sợ hãi mà tôi đã trải qua ở Trung Quốc đại lục, nhưng qua thời gian chấp trước vào tiện nghi thoải mái của tôi bắt đầu nổi lên. Điều này cũng không dễ để phát hiện ra. Thật qúa dễ để một người tu buông lơi chểnh mảng và huỷ hoại bản thân mình.

“Nếu như đến tận bây giờ chư vị vẫn chưa rõ thế nào là đệ tử Chính Pháp, thì không thể từ trong ma nạn trước mắt này mà bước ra được, thì sẽ bị tâm [mong] cầu yên ổn của con người thế gian dẫn đến tà ngộ . Sư phụ vẫn luôn đau lòng trước những vị bị rớt xuống; đa số là bị cái tâm này làm huỷ hại mà rớt xuống.” (Từ ” Đệ tử Đại Pháp thời Chính Pháp,” Tinh Tấn Yếu Chỉ II).

Tôi thường nhắc nhở bản thân mình không được để bị huỷ hoại bởi sự truy cầu thoải mái tiện nghi sung túc. Sư Phụ đã an bài cho tôi tới Úc để tôi có thể làm ba điều tốt hơn nữa. Tôi phải trân quý cơ hội này để tu luyện bản thân cho tốt và nhận ra thệ nguyện lịch sử của mình.

Qua 12 năm gian khổ, Sư Phụ đã dẫn dắt tôi từng bước trên con đường tu luyện của tôi. Tôi đã trải qua nhiều niềm vui và đau khổ. Thật là khắc nghiệt. Tôi đã đi tới ngày hôm nay mặc dù vấp ngã và thăng trầm. Chính Sư Phụ và Đại Pháp đã thay đổi tôi từ một cây cỏ vô dụng không thể đứng vững trước gió trở thành một người tu Đại Pháp đi trên con đường thành Thần. Mọi thứ mà Sư Phụ ban cho tôi – tôi không có cách gì để đền đáp. Tôi có thể thấy được khoảng cách lớn giữa tôi và các học viên khác. Tôi còn xa mới đáp ứng được những tiêu chuẩn yêu cầu của Sư Phụ. Tôi chỉ có thể cố gắng tinh tấn, tinh tấn, và tinh tấn hơn nữa. Tầng thứ của tôi có giới hạn. Các bạn đồng tu, xin từ bi sửa lại những gì chưa đúng.

Ghi Chú:
(1) Bùa – Ở Trung Quốc, thỉnh thoảng các học viên giảng rõ sự thật bằng cách đưa cho người dân một vật nhỏ để đeo hoặc trân trọng, kèm theo một vài từ nhắc nhở họ về sự tốt đẹp của Đại Pháp.


Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2009/4/7/106279.html
Đăng ngày 1-5-2009; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản

Share