Bài viết của Anh Tử và Điền Vân

[MINH HUỆ 03-04-2020] “30 năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, người Mỹ giờ không còn hiểu được sự nguy hại của chủ nghĩa cộng sản”, ông Marion Smith, Giám đốc Điều hành của Quỹ Tưởng niệm Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản viết trên tờ USA Today ngày 8 tháng 11 năm 2019. “Có một lý do vì sao sau một thảm kịch lớn, chúng ta lại được nhắc nhở đừng bao giờ quên. Nhân loại có xu hướng lặp đi lặp lại những sai lầm tương tự.”

Tại thời điểm ông Smith viết bài, chẳng mấy ai chú ý lắm đến cảnh báo của ông. Mấy tuần sau, một chủng virus corona hung hãn đã xuất hiện tại thành phố nằm ở vị trí trung tâm Trung Quốc, Vũ Hán. Mặc dù chủng virus này đã được các bác sỹ phát hiện và báo cáo, nhưng ban đầu, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã che giấu nó, rốt cuộc khiến virus phát tán ra khắp nơi trên thế giới.

Ngày 6 tháng 4 năm 2020, Hoa Kỳ đã báo cáo hơn 360.000 ca nhiễm, cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới (tuy nhiều quốc gia cho rằng con số của Trung Quốc chưa được công bố ra). Thành phố New York, ngọn hải đăng của thế giới tự do, xác nhận số ca nhiễm nhiều hơn bất kỳ thành phố hay bang nào ở Hoa Kỳ.

Trong báo cáo này, chúng tôi phân tích về quan hệ Mỹ-Trung trong những năm qua, mà đó có thể là bệ phóng cho Trung Quốc phát triển và thâm nhập vào Hoa Kỳ. Ảnh hưởng ngày càng lớn hơn bao giờ hết của ĐCSTQ trên thế giới đã tạo điều kiện cho Trung Quốc truyền bá tư tưởng coi thường mạng sống con người ra nước ngoài. Sự bưng bít thông tin về sự bùng phát virus corona đã biến một dịch bệnh thành đại dịch toàn cầu.

Không chỉ có người Trung Quốc, mà nhiều người trên khắp thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, đã trở thành nạn nhân của sự che giấu thông tin của ĐCSTQ trong cuộc khủng khoảng chưa từng có tiền lệ này. Khi chúng ta tiếc thương những người bị thiệt mạng trong đại dịch, cầu nguyện sức khỏe và bình an cho mọi người, chúng tôi hy vọng báo cáo này sẽ làm sáng tỏ sự nguy hại của ĐCSTQ và khuyên mọi người hãy cắt đứt quan hệ với nó.

Báo cáo này được chia thành sáu phần:

Phần 1: Quyền lực của ĐCSTQ ngày một mạnh nhờ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ
Phần 2: Tầm ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của ĐCSTQ ở Manhattan
Phần 3: Tuyên truyền 24/7 của ĐCSTQ trên Quảng trường Thời Đại
Phần 4: Ảnh hưởng sâu đậm của ĐCSTQ ở Liên Hiệp Quốc và các Tổ chức Phi Chính phủ
Phần 5: Chiến dịch tuyên truyền đầu độc của ĐCSTQ ở các trường học của Hoa Kỳ
Phần 6: Sự thâm nhập của ĐCSTQ vào các cộng đồng Hoa Kỳ

—————————–

Phần 1: Quyền lực của ĐCSTQ ngày một mạnh nhờ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ

“Chủ nghĩa cộng sản là một ý tưởng sai lầm, và giải pháp cho một ý tưởng sai lầm chính là sự thật, chứ không phải sự vô tri.” Tổng thống Richard Nixon đã phát biểu như vậy trong cuộc vận động tranh cử ngày 21 tháng 8 năm 1960. “Chủ nghĩa cộng sản bắt đầu bằng tuyên bố rằng không có chân lý phổ quát hay chân lý chung về bản chất con người.”

Trung Quốc gia nhập WTO

12 năm sau, vào tháng 2 năm 1972, Nixon đã giẫm lên quan điểm của mình mà sang thăm Trung Quốc. Ngày 1 tháng 1 năm 1979, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Kể từ đó, Hoa Kỳ đã công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) là chính phủ duy nhất của Trung Quốc và Đài Loan là một địa khu của Trung Quốc.

Một hiệp định thương mại song phương đã được ký kết bởi Tổng thống lúc đó là Jimmy Carter, và Trung Quốc được trao địa vị “Tối huệ quốc” (quốc gia được đối xử ưu đãi nhất, most-favored-nation, MFN). Với Hiệp định Hợp tác Khoa học và Công nghệ, cũng được ký vào năm 1979, hàng trăm dự án nghiên cứu chung và chương trình hợp tác đã được triển khai giữa hai quốc gia sau đó.

Quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ cũng giúp cải thiện vị thế quốc tế của Trung Quốc lên rất nhiều. Sau khi trở thành thành viên của Ngân hàng Thế giới vào năm 1980, năm 1981, Trung Quốc đã nhận được khoản vay đầu tiên. Với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ và Nhật Bản, Trung Quốc đã trở thành thành viên của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), sau đó ADB đã cho Trung Quốc vay 40 tỷ Đô la cho các dự án giao thông, năng lượng, nước, nông nghiệp, tài chính và các dự án khác.

Sau khi ĐCSTQ đàn áp phong trào dân chủ Thiên An Môn vào năm 1989, Hoa Kỳ đã đưa ra đạo luật nhằm hủy bỏ hoặc xét lại địa vị “Tối huệ quốc” của Trung Quốc. Năm 1993, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố Trung Quốc cần đáp ứng những tiêu chí nhất định về nhân quyền để được gia hạn địa vị “Tối huệ quốc”. Tuy nhiên, dưới áp lực của các doanh nghiệp Hoa Kỳ, ông đã gia hạn vô điều kiện địa vị “Tối huệ quốc” cho Trung Quốc mà không suy xét tới các vấn đề nhân quyền của quốc gia này.

Đạo luật Quan hệ Mỹ-Trung năm 2000 của Quốc hội Hoa Kỳ đã được Clinton phê chuẩn vào ngày 10 tháng 10 năm đó. Luật này đã trao cho Trung Quốc vị thế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (NTR) (trước đây gọi là “Tối huệ quốc”, MFN) sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Ngày 11 tháng 12 năm 2001, Trung Quốc chính thức gia nhập WTO, Tổng thống khi đó là George W. Bush đã phê chuẩn địa vị “Tối huệ quốc” có hiệu lực vĩnh viễn cho Trung Quốc.

Những kỳ vọng của Hoa Kỳ chưa được đáp ứng

Chuỗi sự kiện này đã biến Trung Cộng thành một đối thủ lớn trong nền kinh tế thế giới. “Trước năm 1978, Trung Quốc có nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa, và bị cô lập về nhiều mặt; từ đó đến nay, nước này đã dần dần mở cửa nền kinh tế với các quốc gia khác trên thế giới”, một bài báo của Hội đồng Đối ngoại (Council on Foreign Relations) cho biết.

Năm 2000, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ sáu với dân số một tỷ người. Việc Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001 càng đẩy mạnh sự phát triển của nó trên thế giới. Thương mại hàng hóa giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ tăng gấp hơn 30 lần, từ chưa đầy 8 tỷ Đô la vào năm 1986 lên đến hơn 578 tỷ Đô la vào năm 2016. Tính đến năm 2009, Trung Quốc đã vượt qua Đức, trở thành nhà xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới. Nền kinh tế của Trung Quốc vào năm 2009 đã lớn gấp 8 lần so với năm 2001.

Việc nối lại tình hữu nghị của ông Nixon với Trung Quốc đã mang lại lợi ích to lớn cho Trung Quốc, song hệ thống chính trị cộng sản của nước này chủ yếu vẫn y nguyên như mấy thập kỷ qua.

Hai tháng sau khi thiết lập mối quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1979, Trung Quốc đã có cuộc chiến tranh biên giới chớp nhoáng với Việt Nam để đáp trả cuộc xâm lược và chiếm đóng Campuchia của Việt Nam năm 1978 (nhằm kết thúc sự tồn tại của quân Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn).

Khi Tổng thống Ronald Reagan sang thăm Bắc Kinh năm 1984, bài phát biểu chỉ trích Liên Xô và ca ngợi chủ nghĩa tư bản, dân chủ và tự do tôn giáo của ông đã không được phát sóng trên truyền hình nhà nước Trung Quốc.

Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO vào tháng 12 năm 2001, số việc làm trong ngành sản xuất của Mỹ ngày càng sụt giảm. Viện Chính sách Kinh tế ước tính thâm hụt thương mại với Trung Quốc gây mất khoảng 2,7 triệu việc làm từ năm 2001 đến 2011, bao gồm ngành sản xuất và các ngành công nghiệp khác.

Nhận thức sai lầm về chủ nghĩa cộng sản

Ông Michael Pillsbury, cựu quan chức chính phủ từng phục vụ trong Bộ Quốc phòng, và hiện là Giám đốc Trung tâm Chiến lược Trung Quốc, Viện Hudson, đã phân tích mối quan hệ Mỹ-Trung trong cuốn sách năm 2015 của ông mang tên “Cuộc đua trăm năm: Chiến lược Bí mật của Trung Quốc nhằm soán vị Mỹ làm siêu cường quốc toàn cầu” (The Hundred-Year Marathon, China’s Secret Strategy to Replace America as the Global Superpower).

Giống như nhiều quan chức Hoa Kỳ khác, ông Pillsbury từng tin rằng viện trợ của Hoa Kỳ sẽ giúp Trung Quốc tiến tới một quốc gia dân chủ, hòa bình mà không có tham vọng thống trị khu vực hay toàn cầu. “Ông Pillsbury đã sốc khi phát hiện rằng tham vọng nắm quyền thống trị thế giới của Trung Quốc vốn có bấy lâu nay, gần như đã ăn sâu vào gen văn hóa của đất nước này và, như ông nói, chẳng cần phải giấu diếm gì”, theo bài bình luận của Tạp chí Phố Wall về cuốn sách này.

“Qua hồi ký của Henry Kissinger, bây giờ, chúng ta đã biết quyết định theo đuổi việc mở cửa với Hoa Kỳ không phải do các nhà lãnh đạo dân sự của Trung Quốc đưa ra, mà là của một ủy ban gồm bốn viên tướng Trung Quốc”, ông Pillsbury viết trong cuốn sách, đồng thời cho biết bốn viên tướng này đang chơi quân bài Hoa Kỳ để chống lại Liên Xô.

Vị thế của Bắc Kinh được nâng lên nhờ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ

Ngày 13 tháng 12 năm 2019, ông David Stilwell, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao phụ trách khu vực Đông Á, Thái Bình Dương, có bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược & Quốc tế (CSIS). Ông cho biết, nhiều thập kỷ qua, chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ Trung Quốc về mọi mặt, “Chúng tôi hỗ trợ về quân sự và tình báo, chúng tôi hào phóng trong việc chuyển giao công nghệ, chúng tôi đảm bảo quyền ưu đãi trong đầu tư và thương mại, chúng tôi tài trợ và tiến hành rất nhiều hoạt động trao đổi giáo dục – và hiện vẫn tiến hành như vậy – chúng tôi tài trợ phát triển và tổ chức hoạt động xây dựng năng lực cho chính quyền Trung Quốc do chính phủ Hoa Kỳ trực tiếp thực hiện, và còn nhiều hơn thế.”

Thế nhưng, trong những năm gần đây, ĐCSTQ lại thể hiện sự thù địch ngày càng lớn “đối với Hòa Kỳ, đối với lợi ích và nguyên tắc của chúng ta… Đó hoàn toàn không phải là điều mà giới chức Mỹ mong muốn hay kỳ vọng 40 năm trước, khi họ đặt ra chính sách đẩy mạnh hỗ trợ nhiều mặt của Hoa Kỳ vì công cuộc hiện đại hóa và tiến tới tự do của Bắc Kinh”, ông Stilwell phát biểu.

Ngay cả sau Vụ Thảm sát Thiên An Môn năm 1989, chính phủ Hoa Kỳ vẫn duy trì quan hệ gần như trước với Trung Quốc. Ông nói tiếp: “Trong nhiều thập kỷ, chúng ta đã dung túng các vụ vi phạm nhân quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) mà không có sự phản đối mạnh mẽ nào. Chúng ta gần như đã nhún vai bất quản việc phát triển công nghệ hạt nhân và tên lửa của Trung Quốc cho Pakistan, Iran và Bắc Triều Tiên, và những nước khác. Chúng ta hầu như đã làm ngơ trước việc CHNDTH tách công nghệ lưỡng dụng [phục vụ cả mục đích quốc phòng lẫn thương mại] do Hoa Kỳ phát minh để dùng cho mục đích quân sự. Chúng ta không có mấy sự phản đối đối với hành vi đánh cắp tài sản trí tuệ, làm nhái, làm giả hàng có đăng ký nhãn hiệu, và vô số hoạt động thương mại gian lận khác. Việc hoạch định chính sách đòi hỏi phải cân bằng lợi ích, và chúng ta thường có lý do để cho phép điều này, điều kia khiến hành vi phạm tội của Trung Quốc không được giải quyết. Nhưng hậu quả đã ngày càng nhiều.”

Quá hơn nữa, sau Vụ Thảm sát Thiên An Môn năm 1989, các lãnh đạo của ĐCSTQ đã đưa chiến dịch giáo dục lòng yêu nước vào trường học và văn hóa. Mục đích của chiến dịch này là thu hút sự ủng hộ ĐCSTQ bằng cách lợi dụng chủ nghĩa dân tộc và bài xích người nước ngoài, đặc biệt là người Mỹ và người Nhật.

Trong bài phát biểu của mình, ông Stilwell cho biết : “Nhưng các quan chức Hoa Kỳ hầu như không để ý. Thay vào đó, họ tập trung vào việc viết ra chương tiếp theo của chính sách hỗ trợ của chúng ta đối với Trung Quốc. Và đây có lẽ là điều có lợi nhất và là hệ quả của toàn bộ sự hỗ trợ đó – CHNDTH gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.”

Ông cũng nhận định về cách ứng xử của các tổng thống gần đây với Trung Quốc: “Tổng thống Bill Clinton khi nhậm chức đã cực lực phê phán hồ sơ nhân quyền của Bắc Kinh… Thế nhưng, đến năm 1994, Clinton đã mất đi thái độ kiên quyết đó.“ “Tổng thống George W. Bush và Barack Obama đều có những quan ngại về các phương diện trong hành xử của Bắc Kinh, cũng như những người tiền nhiệm của họ vậy… Nhưng cả hai đều đảm bảo rằng Hoa Kỳ về cơ bản sẽ hợp tác với Trung Quốc như một đối tác, một người ủng hộ.”

Ông Stilwell cho biết: “Ngay cả khi Bắc Kinh gian lận về vấn đề Hoa Kỳ và thương mại – thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc lên đến 4.000 tỷ Đô la lũy kế. Song, cả hai tổng thống này đều ủng hộ việc nâng cao vị thế của Bắc Kinh trong các tổ chức quốc tế quan trọng, ngay cả khi Bắc Kinh thường phá vỡ sứ mệnh và tinh thần của các tổ chức này.”

Phần 2:Tầm ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của ĐCSTQ ở Manhattan​

Nếu như Trung Quốc là cây, thì Hoa Kỳ có thể đã hy vọng Trung Quốc cuối cùng sẽ trổ quả dân chủ và tự do với sự liên tục hỗ trợ và nuôi dưỡng của Hoa Kỳ. Thế nhưng, Trung Quốc dưới sự cầm quyền của ĐCSTQ, không phải là “cái cây” bình thường. ĐCSTQ vô thần lớn mạnh nhờ lòng thù hận và bạo lực, nó giống như mầm bệnh sẽ lây lan như các tế bào ung thư lây nhiễm cho toàn thế giới nếu không được kiểm soát.

Khi lãnh đạo ĐCSTQ Đặng Tiểu Bình lần đầu tiên sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1979, Bộ trưởng Bộ ngoại giao của ông đã hỏi trong chuyến bay tại sao ông chọn Hoa Kỳ cho chuyến thăm nước ngoài đầu tiên với tư cách lãnh đạo Trung Quốc. “Bởi các đồng minh của Mỹ đều giàu mạnh, và nếu Trung Quốc muốn giàu mạnh, thì phải cần tới Mỹ”, nhà sử học John Pomfret nhớ lại.

Đặng, một người tin tưởng mạnh mẽ vào học thuyết “quyền lực chính trị lớn lên từ báng súng” của Mao, đã xâm lược Việt Nam chưa đầy ba tuần sau đó. 10 năm trước, khi xe tăng đè bẹp người biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989 theo lệnh của Đặng, ông ta nói nhỏ với Tổng thống Carter: “Lũ trẻ bắt đầu hư rồi, đã đến lúc chúng bị ăn đòn rồi”.

Ngay cả khi đã có vị thế trong WTO, Trung Cộng vẫn chưa mạnh như ngày nay nếu nó không được phương Tây, đặc biệt là Phố Wall, liên tục rót vốn. Nhờ được các trùm tư bản của Hoa Kỳ và các thị trường khác nuôi dưỡng, sức tăng trưởng của ĐCSTQ đã đạt đến tầm cao mới chưa từng thấy, và trở thành một thực thể ác tính về mọi mặt.

Ảnh hưởng của Phố Wall đối với chính sách Trung Quốc của Hoa Kỳ

Năm 1994, khi sang thăm Bắc Kinh, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Alan Greenspan nói với các lãnh đạo Trung Quốc rằng cả Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới đều mong Trung Quốc sẽ thành công. “Do vậy, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật nhiều nhất có thể cho ngân hàng trung ương của các vị trong những lĩnh vực mà chúng tôi đã có nhiều năm kinh nghiệm.”

Trong hơn 20 năm qua, các tập đoàn tài chính Phố Wall đã khuyến khích người Mỹ đầu tư vào các doanh nghiệp Trung Quốc. Đồng thời, các công ty tài chính lớn còn bảo lãnh giao dịch để các công ty Trung Quốc mua lại hoặc kiểm soát các công ty Hoa Kỳ, cũng như bất động sản, và các lĩnh vực kinh doanh khác.

Phố Wall cũng đang vận động hành lang các nhà hoạch định chính sách để đưa ra những quyết định có lợi cho Trung Quốc. Sau khi Thủ tướng Trung Quốc bấy giờ sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 1999, các lãnh đạo doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục Tổng thống Clinton hỗ trợ Trung Quốc gia nhập WTO.

Theo Đạo luật Ngoại thương và Cạnh tranh Toàn diện (Omnibus Foreign Trade and Competitiveness Act) năm 1988, từ năm 1992 đến năm 1994, Hoa Kỳ đã liệt Trung Quốc vào diện quốc gia thao túng tiền tệ. Tuy nhiên, từ đó trở đi, không có tổng thống nào, kể cả Clinton, Bush và Obama, đã liệt Trung Quốc vào diện thao túng tiền tệ, do ảnh hưởng của các nhân vật ủng hộ Trung Quốc của Phố Wall.

Nhảy với Sói: Phố Wall và ĐCSTQ

New York là thành phố lớn nhất ở Hoa Kỳ, là trung tâm tài chính, kinh doanh, văn hóa, và truyền thông của xã hội Mỹ. Đây cũng là trụ sở của Liên Hiệp Quốc. Với tầm quan trọng ấy, New York đã trở thành mục tiêu thâm nhập chính của ĐSCTQ.

Một ví dụ là Kế hoạch Tiết kiệm (Thrift Savings Plan, TSP), một chương trình hưu trí căn cứ theo khoản đóng góp xác định được hoãn thuế (tax-deferred defined contribution plan) với giá trị gần 600 tỷ Đô la cho nhân viên liên bang. Tháng 11 năm 2019, Ủy ban Đầu tư Tiết kiệm Hưu trí Liên bang (FRTIB) phụ trách quản lý kế hoạch này đã công bố chuyển hàng tỷ Đô la tài sản hưu trí thành chỉ số MSCI ACWI ex-US”, bất chấp Quốc hội kêu gọi đảo ngược chiều hướng.

MSCI ACWI ex-US, Morgan Stanley Capital International All Country World Index Ex-US, là một chỉ số thị trường chứng khoán bao gồm các loại chứng khoán không phải của Mỹ từ 23 thị trường phát triển và 26 thị trường mới nổi. Hai công ty Trung Quốc Alibaba và Tencent, lần lượt là cổ đông lớn thứ nhất và thứ ba của chỉ số này, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2019.

Ngày 12 tháng 3 năm 2020, Josh Rogin, chủ bút một chuyên mục của Washington Post viết, việc chính phủ liên bang đem Kế hoạch Tiết kiệm đầu tư vào các tập đoàn Trung Quốc có thể đặt giới hưu trí vào chỗ rủi ro.

MSCI ACWI ex-US là một trong nhiều chỉ số vốn chủ sở hữu do Công ty MSCI (Morgan Stanley Capital International) lập ra. Tháng 11 năm 2019, công ty này công bố tăng trọng số cổ phiếu A của Trung Quốc ở một số chỉ số MSCI lên tới 20%. Động thái này càng tạo cơ hội cho chứng khoán Trung Quốc vươn ra toàn cầu.

Ngày 21 tháng 2 năm 2020, FTSE Russell, công ty có chỉ số lớn thứ hai trên thế giới, lại cộng hưởng với động thái của MSCI khi công bố tăng trọng số của chứng khoán Trung Quốc trên các chỉ số vốn chủ sở hữu.

Trước khi MSCI và FTSE Russell ra tuyên bố này, Bloomberg đã quyết định bổ sung 364 trái phiếu Trung Quốc nội địa vào chỉ số Barclays Global Aggregate Index trong 20 tháng tiếp theo, bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 2019. Các nhà phân tích ước tính sau khi đưa toàn bộ vào, sẽ thu hút khoảng 150 tỷ Đô la dòng tiền nước ngoài vào thị trường trái phiếu khoảng 13.000 tỷ Đô la của Trung Quốc.

Rủi ro tài chính và an ninh quốc gia

Việc Phố Wall sử dụng các quỹ có chỉ số thụ động (passive index funds) để âm thầm đưa các công ty Trung Quốc có vấn đề vào thị trường vốn của Hoa Kỳ, như kế hoạch hưu trí cho nhân viên liên bang chẳng hạn, là “mối đe dọa tài chính thậm chí còn lớn hơn” cả virus Vũ Hán, ông Rogin viết.

Việc ngày càng có nhiều công ty Phố Wall nắm giữ cổ phần của các công ty Trung Quốc đã tạo cho Bắc Kinh đòn bẩy lớn mạnh ngay bên trong Hoa Kỳ và đặt ra rủi ro cực lớn cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ cũng như nền kinh tế Hoa Kỳ. “Những lỗ hổng kinh tế của Mỹ cũng là những lỗ hổng về an ninh quốc gia”, ông Rogin viết.

Ông Robert O’Brien, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, tán thành: “Tôi không hiểu tại sao chúng ta lại bảo trợ cho ngành công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc.”

Theo một bài báo trong tờ Foreign Policy (Chính sách Đối ngoại) hôm 14 tháng 1 năm 2020, 55% người Mỹ sở hữu cổ phiếu, chủ yếu dựa vào các quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ, và tài khoản hưu trí được quản lý chuyên nghiệp. Bài báo cho hay: “Những chỉ số trái phiếu toàn cầu bắt đầu đưa trái phiếu chính phủ Trung Quốc vào các tiêu chí chuẩn của mình… những thay đổi lớn trong việc phân bổ nguồn vốn này có thể tự động tăng đầu tư hạng mục của Hoa Kỳ vào chứng khoán chính phủ và công ty Trung Quốc lên hơn 1.000 tỷ Đô la vào cuối năm 2021, mà không cần có sự chủ động đồng ý hay sự thừa nhận của hầu hết người Mỹ.”

Bài báo cho biết thêm: “Sự đối kháng này—việc người Mỹ đầu tư nhiều hơn vào các công ty Trung Quốc cho dù Hoa Kỳ có những chính sách nhằm trừng phạt Trung Quốc vì gian lận thương mại—đã đặt ra những rủi ro nghiêm trọng.” Đây là do hạng mục đầu tư của Mỹ phụ thuộc quá nặng vào một nền kinh tế duy nhất—nền kinh tế do ĐCSTQ kiểm soát.

Tuy nhiên, do ĐCSTQ tuyên truyền và tung tin thất thiệt như đã thấy trong đại dịch virus corona gần đây, các nhà đầu tư Mỹ khó mà hiểu được rõ những gì xảy ra bên trong các hạng mục đầu tư của họ.

Hai ví dụ

Tháng 4 năm 2010, Goldman Sachs bị Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ (U.S. Securities and Exchange Commission, SEC) buộc tội gian lận khi tiếp thị sản phẩm thế chấp dưới chuẩn. Năm 2003, để tiến vào thị trường Trung Quốc, Goldman Sachs đã đồng ý chi một khoản “quyên tặng” 67 triệu Đô la để bù lỗ cho vụ đầu tư thất bại của một công ty môi giới Trung Quốc. Đổi lại, Goldman Sachs được phép thành lập ngân hàng đầu tư liên doanh của mình tại Bắc Kinh, tờ New York Times đưa tin vào tháng 3 năm 2005.

Bài báo viết: “Điều hết sức khác thường trong thương vụ của Goldman là một công ty đẳng cấp của Mỹ lại sẵn sàng chi trả 67 triệu Đô la để giúp chính phủ giải thể một doanh nghiệp nhà nước chẳng có liên quan gì, Công ty Chứng khoán Hải Nam, mà các lãnh đạo của công ty này từng bị kiện vì biển thủ hàng triệu Đô la từ tài khoản của các nhà đầu tư.”

Một ví dụ khác là J.P. Morgan, từ năm 2006 đến năm 2013, đã thuê khoảng 200 người thân hoặc bạn bè của các cán bộ điều hành ở các công ty Châu Á. Trong đó, gần 100 người làm cho ngân hàng này là do các quan chức của các công ty nhà nước Trung Quốc giới thiệu. Có những nhân viên không đủ tiêu chuẩn với các công việc được giao, Tạp chí Phố Wall đưa tin vào tháng 5 năm 2019.

Kiểu tuyển dụng này gọi là “con ông cháu cha”, là chủ đề của một cuộc điều tra nhiều năm của các nhà chức trách Hoa Kỳ. Năm 2016, J.P. Morgan thừa nhận đã vi phạm Đạo luật Tham nhũng Nước ngoài (Foreign Corrupt Practices Act) và đồng ý trả 264 triệu Đô la để giải quyết các cáo buộc dân sự và hình sự vì hoạt động tuyển dụng của ngân hàng này ở Châu Á. Hơn 20 nhân viên của ngân hàng này đã bị sa thải hoặc bị kỷ luật vì cuộc điều tra này.

Bài học kinh nghiệm

Sau nhiều thập kỷ đi những bước đi sai lầm với ĐCSTQ, các quan chức Hoa Kỳ giờ đây đã nhận ra hậu quả.

Ngày 4 tháng 10 năm 2018, Phó Tổng thống Hoa Kỳ Mike Pence phát biểu tại Viện Hudson: “Sau khi Liên Xô sụp đổ, chúng ta những tưởng Trung Quốc không thể không tiến đến tự do. Say sưa trong sự lạc quan ấy, khi bước vào thế kỷ 21, Mỹ đã đồng ý cho Bắc Kinh cơ hội tiếp cận với nền kinh tế của chúng ta, và đưa Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Giấc mơ tự do vẫn còn xa vời đối với người dân Trung Quốc. Và mặc dù Bắc Kinh vẫn chỉ chót lưỡi đầu môi về ‘cải cách và mở cửa’, chính sách nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình giờ đây chỉ còn là thùng rỗng kêu to.”

Ông Pence cho biết thêm, GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng gấp 9 lần và quốc gia này đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, mà sự thành công này chủ yếu là nhờ đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc. “Với kế hoạch ‘Made in China 2025’, ĐCSTQ đã đặt ra mục tiêu kiểm soát 90% các ngành công nghiệp tiên tiến nhất của thế giới, bao gồm robot, công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo… Và khi sử dụng công nghệ đánh cắp đó, ĐCSTQ đang biến lưỡi cày thành thanh kiếm trên quy mô lớn.”

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo tán thành: “Hãy nhìn xem, chúng ta lâu nay vốn giữ truyền thống hữu hảo với dân tộc Trung Hoa. Hôm nay, chúng ta cũng vẫn duy trì truyền thống ấy. Chúng ta có một cộng đồng Hoa kiều tại Mỹ mà chúng ta yêu mến và trân trọng. Tôi biết họ qua công việc và các mối quan hệ cá nhân; và tôi biết nhiều người trong số họ”, ông nói trong bài phát biểu ngày 30 tháng 10 năm 2019.

Ông nói tiếp: “Nhưng tôi phải nói rằng chính quyền cộng sản ở Trung Quốc ngày hôm nay và người dân Trung Quốc không còn là một nữa. Họ đang tìm cách và dùng những cách thức để tạo ra nhiều khó khăn cho Hoa Kỳ và thế giới.”

Ông nói chính phủ Hoa Kỳ đã quá chậm trễ trong việc xử lý rủi ro do ĐCSTQ tạo ra. Để giúp Trung Quốc vươn lên trong nhiều thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã thỏa hiệp các giá trị Mỹ khi hạ thấp quan hệ với Đài Loan, né tránh các vấn đề về nhân quyền, nhắm mắt làm ngơ khi Trung Quốc không tuân thủ các quy định của WTO, và để các doanh nghiệp Hoa Kỳ tuân thủ những vấn đề “đang tranh cãi”.

Ông Pompeo cho rằng “Sự không khoan nhượng của Bắc Kinh đã tạo ra lớp người vận động hành lang cho Trung Quốc thường trực ở Hoa Kỳ. Công việc chính của họ là bán quyền tiếp cận các lãnh đạo Trung Quốc và kết nối các đối tác kinh doanh. Hễ có tranh chấp hay căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung, nhiều học giả của chúng ta liền đổ tội cho Hoa Kỳ là xuyên tạc bản chất của ĐCSTQ.”

Đồng thời, Bắc Kinh còn kiểm soát và hạn chế khả năng tiếp cận các nhà ngoại giao, nhà báo, và học giả Hoa Kỳ. Theo lời ông Pompeo: “Truyền thông nhà nước và người phát ngôn của chính quyền Trung Quốc đã thêm dầu vào lửa khi thường xuyên tạc ý định và mục tiêu chính sách của Mỹ.”

“Và đây không phải chỉ là vấn đề của chúng ta. Đây là vấn đề của tất cả các quốc gia có chung giá trị với chúng ta”, ông cho biết, và nói thêm rằng ông tin chính phủ đương nhiệm có thể khắc phục những sai lầm này.

(Còn nữa)

Bài viết liên quan:

Ôn dịch gây thiệt hại nặng nề: Vì sao New York là khu vực chịu tổn thất nghiêm trọng?


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2020/4/3/403339.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2020/4/8/183954.html

Đăng ngày 15-04-2020; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share