Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp tại Trung Quốc

[MINH HUỆ 10-12-2025] Có thể đi theo Sư phụ trợ Sư chính Pháp là điều vạn hạnh của chúng sinh. Tôi xin chia sẻ một vài cảm nhận về thụ ích của mình trong Đại Pháp để chứng thực sự vĩ đại của Đại Pháp.

1.Không bận tâm chuyện cũ, thiện đãi gia đình anh trai, chị dâu, hàng chục người bên nhà mẹ đẻ làm tam thoái

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, mồ côi mẹ từ thuở nhỏ. Nhờ sự kiên trì của cha, vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi may mắn thi đỗ vào một trường đại học trọng điểm của tỉnh. Cha mẹ tôi sinh được năm người con, anh cả của tôi là một người điển hình sợ vợ, thậm chí nếu chị dâu chưa bày tỏ thái độ về việc gì thì anh ấy không dám nói nửa lời. Trước khi tu luyện, vì sự vô trách nhiệm của anh, mà cha tôi, chị gái và tôi nhiều lần bị chị dâu ức hiếp, lăng mạ. Điều làm tôi khó nguôi ngoai nhất là khi tôi trở thành nữ sinh đại học đầu tiên trong làng, lúc mở lời vay tiền chị ấy để nộp học phí, thái độ của chị dâu thực sự khiến người ta đau lòng. Tôi từng thầm hạ quyết tâm rằng sau này đến chết cũng không bao giờ qua lại với gia đình họ.

Năm 1997, tôi bắt đầu tu luyện Đại Pháp. Năm 1999, khi tà đảng bắt đầu bức hại, con tôi chào đời. Năm 2000, chị dâu dẫn theo con trai bị viêm gan B đến chỗ tôi ở để đi khám bệnh. Viêm gan B có tính lây nhiễm, đây là điều mà ai cũng biết. Khi ấy con tôi còn chưa đầy một tuổi, chính là độ tuổi rất dễ bị lây nhiễm. Mẹ chồng và bà ngoại tôi đều nói: “Con nhà mình còn bé như thế, nếu bị lây thì làm thế nào?”

Sau khi học Đại Pháp, tôi hiểu được mối quan hệ nhân duyên dẫn đến bệnh tật, vì vậy trong thời gian chị dâu và cháu chờ nhập viện, tôi đã sẵn lòng đón họ về nhà mình ở hai ngày, trong thời gian cháu nằm viện, tôi mua quà tới bệnh viện thăm. Tôi nói cho họ nghe Pháp lý của Đại Pháp, đạo lý thiện ác hữu báo, khích lệ cháu nhẩm niệm nhiều lần “Pháp Luân Đại Pháp hảo! Chân-Thiện-Nhẫn hảo!”

Nếu không tu luyện Đại Pháp, nhớ lại cách cư xử trước đây của họ đối với mình, tôi nhất định sẽ chẳng đoái hoài gì và trốn tránh thật xa. Sau khi bệnh tình của cháu trai ổn định, họ trở về nhà. Kể từ sau chuyện này, thái độ của chị dâu đối với tôi thay đổi rất nhiều, mỗi khi tôi về quê, chị đều nhiệt tình tiếp đón, mối quan hệ giữa chúng tôi cũng trở nên hòa thuận.

Trong thời gian học trung cấp, cháu trai tôi may mắn đắc Pháp; mỗi khi cuối tuần tới chỗ tôi, chúng tôi lại cùng nhau đọc Pháp và luyện công. Sau này cháu đi làm việc ở nơi khác, mất đi môi trường tu luyện nên không thể kiên trì luyện công, nhưng mỗi khi có chuyện gì, cháu đều nhớ tới Đại Pháp và thành tâm thầm niệm “Pháp Luân Đại Pháp hảo, Chân-Thiện-Nhẫn hảo!”

Hơn 20 năm qua, bệnh tình của cháu chưa từng bị tái phát. Hơn nữa, cháu cũng đắc phúc báo; trong tình trạng thất nghiệp phổ biến hiện nay, một người có bằng trung cấp như cháu lại có thể nhận mức lương ổn định hàng vạn tệ mỗi tháng. Người thân và bạn bè của tôi đều biết chuyện này, chị dâu cũng có chuyện gì là muốn tâm sự với tôi, coi tôi như người một nhà. Nhờ đó tôi không còn nỗi bận tâm nào, tận dụng các kỳ nghỉ lễ cũng như những dịp cưới hỏi ma chay về nhà mẹ đẻ để tìm cơ hội giảng chân tướng Đại Pháp cho họ.

Vì những hành xử trước đây của chị dâu, chị cả, chị hai và anh hai đều có thành kiến với chị ấy. Tôi cũng thường đem những Pháp lý học được từ Đại Pháp để khuyên giải họ, nói cho họ lý lẽ ‘lùi một bước biển rộng trời cao’, khuyên họ nhìn nhận sự việc lâu dài hơn. Cứ như vậy, mâu thuẫn gia đình dần dần được hóa giải.

Chị cả, chị hai và anh hai từng chu cấp cho tôi trong thời gian đi học, sau này tôi đã báo đáp họ bằng tiền bạc và vật chất gấp nhiều lần. Mỗi khi nhà họ có việc như xây nhà, con cái kết hôn hay khi họ ốm đau, tôi đều nỗ lực hết sức để giúp đỡ. Do vậy, bất kể tôi đến nhà ai, họ đều chào đón, các thế hệ sau đều tôn kính tôi, và mỗi khi nhà có việc lớn đều muốn bàn bạc cùng tôi. Điều này đã tạo nền tảng rất tốt cho việc tôi giảng chân tướng. Kết quả là nhiều người thân bên nhà mẹ đẻ và họ hàng, cùng hàng xóm láng giềng đều đã làm tam thoái, tính sơ qua cũng được sáu, bảy mươi người.

2.Chú ba nói: “Lòng hiếu thảo của cháu, các cháu khác phải lấy đó làm gương”

Là con út trong nhà, lại đi học suốt, nên ở nhà mẹ đẻ tôi chưa từng phải làm việc nhà. Sau khi kết hôn, do mối quan hệ giữa mẹ kế và bố chồng không hòa thuận, mẹ kế lấy lý do bố chồng không đưa tiền cho bà để làm vài việc như buôn bán nhỏ, càng đến dịp Tết lại càng bận rộn, cộng thêm sức khỏe bà không tốt; để giảm bớt mâu thuẫn, hễ đến Tết khi về quê là tôi tự giác làm việc nhà, hầu hết việc cơm nước và dọn dẹp vệ sinh cho cả một gia đình lớn đều do một mình tôi làm. Mỗi lần qua Tết, khi trở về nhà mình, tôi không làm gì mà ngủ liền hai ngày, như vậy mới giải tỏa được nỗi mệt mỏi về thân, tâm. Chồng tôi trước bị lao động cưỡng bức phi pháp rồi lại bị kết án nặng, tôi cứ thế nhận lấy vất vả, không một lời oán thán, làm lụng trong gia đình này suốt mười mấy năm ròng.

Sau khi chồng tôi trở về nhà, mẹ kế vì không chịu nổi tính keo kiệt và hám tiền của bố chồng, đúng lúc ông lại bị thoát vị đĩa đệm, khiến bà càng không còn ý định sống tiếp với ông sau khoảng thời gian 20 năm cùng nhau chung sống, bà đã đệ đơn ly hôn.

Sau khi hai ông bà ly hôn, bố chồng lúc ấy đã ngoài 70 tuổi, lưng lại đau. Ông muốn ở quê nhưng chúng tôi đi làm trên thành phố, không thể thường xuyên chăm sóc ông được. Anh cả của chồng tôi cũng là người tu luyện, anh bàn với tôi rằng hai nhà sẽ thay phiên nhau phụng dưỡng ông. Tôi nói không vấn đề gì. Nhưng đến khi thật sự tới lượt nhà anh phụng dưỡng, anh cả lại gọi điện cho tôi nói: “Chị dâu em không muốn ở chung với bố, nếu ở riêng thì lại phải thuê người giúp việc, thuê thêm phòng, chi phí sẽ rất cao, hơn nữa anh cũng không làm việc tại địa phương, sức khỏe chị dâu em cũng không tốt, em xem có thể thế này không, để bố ở chỗ các em, anh sẽ gửi tiền được không?” Tôi vừa nghe, lập tức nói: “Không vấn đề gì ạ.” Cứ vậy, bố chồng ở nhà tôi 5, 6 năm liền, cho đến khi ông qua đời.

Theo lời chồng tôi thì mẹ anh bị chính bố anh làm cho tức chết, mẹ kế cũng rời bỏ ông sau 20 năm cãi vã. Trong những năm chung sống với bố chồng, nếu không nhờ sự cảm hóa bởi Pháp lý của Đại Pháp, tôi căn bản không thể nào sống chung với ông được.

Chồng tôi bị Trung Cộng bức hại nhiều năm, tôi luôn phải một mình gánh vác gia đình, vốn không có mấy tiền tích lũy. Sau khi chồng ra tù, chuyên môn nghiệp vụ cũng đã bị gián đoạn từ lâu, muốn tìm công việc đúng chuyên ngành vô cùng khó khăn. Để con cái và người già sinh hoạt thuận tiện, chúng tôi đã vay tiền mua căn nhà ba phòng ngủ.

Sau khi bố chồng đến ở chỗ tôi, ban đầu được anh cả khuyên nhủ, ông đồng ý trích vài trăm tệ từ tiền lương hưu đưa cho tôi làm sinh hoạt phí. Thế nhưng mới đưa được hai tháng là ông không muốn đưa nữa. Trong khi đó, lúc ấy tôi vừa phải gánh vác tiền trả góp mua nhà, tiền học cho con, vừa phải duy trì các khoản chi tiêu thường ngày của gia đình, kinh tế vô cùng eo hẹp.

Làm việc cả ngày xong, tôi lại vội vã đi xe điện về nhà. Mùa hè thì còn đỡ, đến mùa đông, ở ngoài cả ngày đã bị lạnh thấu xương, lại ngồi xe điện đón gió, khi về đến nhà tôi thường vừa đói vừa lạnh; thế nhưng bố chồng lấy lý do mình nấu ăn không ngon chỉ ngồi chờ tôi về nấu. Tôi oán trách ông những việc đã nói mà không làm, không biết thông cảm cho người khác, lại căm ghét việc ông không cho một xu nào khi chúng tôi kết hôn và mua nhà. Đồng thời nhớ lại lúc tôi bị lao động cưỡng bức phi pháp, ông dẫn con đến thăm tôi, tiền lộ phí còn trừ vào tiền lương của tôi… Mỗi lần nghĩ đến những điều này, tâm tôi tràn đầy oán hận, hoàn toàn quên mất mình là một người tu luyện. Có thể tưởng tượng mâu thuẫn gia đình tôi lúc đó gay gắt thế nào.

Tôi cũng biết như vậy là không đúng, nhớ lại Pháp của Sư phụ giảng:

“Kẻ ác do tâm tật đố sai khiến, ích kỷ, nóng giận, mà tự thấy bất công.” (Cảnh giới, Tinh Tấn Yếu Chỉ)

Bản thân tôi còn cách rất xa so với yêu cầu của Chân-Thiện-Nhẫn. Tôi cũng muốn thay đổi bản thân. Sư phụ nhìn thấy tôi có cái tâm muốn sửa đổi này. Một hôm, khi đến nhà một đồng tu lớn tuổi, khi tôi hỏi bà ấy hồi đó đã chung sống với bố mẹ chồng như thế nào, bà ấy nói: “Mẹ chồng cô không có con gái, để các cụ không giận dỗi, cũng là để các cụ trông con giúp, hồi đó nhận lương xong là cô đưa hết cho bố mẹ chồng luôn.” Tôi nghe xong vô cùng kinh ngạc, đó là chuẩn mực đạo đức của con người vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước; một người đã tu luyện mười mấy năm như tôi, ở phương diện này lại chẳng bằng một người thường.

Tôi bắt đầu hướng nội, tìm thấy tâm oán hận, tâm vị tư, tâm tật đố, tâm sợ chịu khổ, v.v. Nhớ lại những phó xuất của bố chồng cho gia đình này suốt bao năm qua: sau khi cuộc bức hại của tà đảng xảy ra, gia đình chúng tôi từng có năm người lần lượt bị giam giữ phi pháp tại các trại tạm giam, trại lao động cưỡng bức, lớp tẩy não, trung tâm giam giữ, nhà tù; trong suốt những năm ấy ông không ngừng bôn ba khắp nơi để giải cứu chúng tôi, trong suốt thời gian đó chưa từng nghe ông phàn nàn một câu, chưa từng nói một lời bất kính nào với Đại Pháp. Giờ đây khi ông đã già, muốn ăn một bữa cơm ngon miệng, muốn có một nơi an cư, vậy mà tôi lại sinh ra bao nhiêu tâm bất kính và oán hận.

Nghĩ đến đây, tôi xấu hổ vô cùng, từ đó dần dần buông bỏ các loại nhân tâm. Mỗi khi nhận thấy bản thân có điều bất bình, tôi lập tức phát chính niệm tiêu trừ những tâm không tốt này. Đồng thời, tôi bắt đầu thực tâm suy nghĩ cho người già, nấu những món ăn mà ông thích; ông muốn làm gì tôi đều chiều theo; ông không chú ý vệ sinh thì tôi xem đó là cơ hội để bỏ tâm sợ phiền phức của mình, không còn chê bai thói quen bẩn thỉu của ông; ông muốn về quê chơi vài hôm, chồng không có thời gian thì tôi lái xe đưa ông về; thậm chí trước khi qua đời, ông mắc chứng sa sút trí tuệ và vu oan cho tôi ăn trộm tiền của ông, tôi cũng không bận tâm. Những hành động của tôi trong vài năm nay, người trong gia tộc của chồng đều nhìn thấy rõ; mỗi lần về quê, họ đều nhìn tôi bằng ánh mắt tán thưởng; một ông chú ngoài 80 tuổi mới chỉ gặp mặt hai lần đã nói với tôi rằng: “Chú thấy cháu tốt lắm đấy!”

Sau khi bố chồng qua đời, theo di nguyện của người già, lễ tang được tổ chức theo phong tục tập quán ở quê nhà. Đây là việc trọng đại ở nông thôn, vì chúng tôi không thường xuyên sống ở quê nên có những nghi lễ tôi cũng không biết; tuy nhiên tôi hiểu rằng đệ tử Đại Pháp ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải thể hiện sự hiểu biết lễ nghĩa và độ lượng. Tôi nói với người chú phụ trách lo liệu việc tang lễ: “Chúng cháu không thường xuyên ở nhà, có những lễ nghĩa chúng cháu không rõ, có việc gì chú cứ quyết định thay chúng cháu. Bố cháu lúc còn sống luôn cần kiệm, chỉ vì lo lắng sau trăm tuổi không có tiền để ra đi thanh thản vẻ vang, giờ chú cứ xem xét sắp xếp, làm theo quy cách cao nhất trong làng.” Sau khi tôi nói những lời này, bà con lối xóm ai nấy đều lắng nghe, bầu không khí lập tức trở nên nhẹ nhõm. Tôi biết rằng chúng tôi không thường ở nhà, bình thường không giúp đỡ được người khác, nay mọi người nể tình xóm giềng đến giúp, chúng tôi tuyệt đối không thể quá keo kiệt, cũng không thể để họ nghĩ rằng người tu luyện chúng tôi không hiểu lễ nghĩa.

Tang lễ của ông diễn ra rất thuận lợi. Trong quá trình thu xếp hậu sự, tôi đã gói ghém mười mấy phần đồ đạc mà họ hàng mang đến để biếu lại cho bà con chòm xóm, điều này càng giúp họ thấy được sự chân thành của chúng tôi. Để cảm ơn, chúng tôi đã đặt hai bàn tiệc tại nhà hàng trong thôn; lúc bắt đầu, chúng tôi mời chú ba trong họ phát biểu đôi lời, không ngờ chú nâng ly rượu lên nói: “Nào nâng ly lên, lớp trẻ các cháu nghe đây, hãy học chị dâu thứ hai của các cháu! Sự hiếu thuận của cháu nó, các cháu phải học đấy nhé.”

3.Khắc chữ “Chân-Thiện-Nhẫn hảo” lên tường, sừng sững trong mưa gió suốt mười mấy năm

Năm 1996, tôi về làm dâu nhà chồng. Do mấy anh chị em đều đi học đại học, nhà chồng tôi trống huếch trống hoác, chỉ có hai gian nhà đất và sáu gian đất nền phía sau. Sau khi chúng tôi kết hôn, anh cả đã bàn bạc với chúng tôi việc xây sáu gian nhà phía sau, bắt đầu lên kế hoạch từ năm 1998.

Tuy nhiên, cuộc bức hại Pháp Luân Công của tà đảng năm 1999 đã khiến mấy anh chị em và tôi, vì không từ bỏ tu luyện, lần lượt bị giam giữ, lao động cưỡng bức và kết án phi pháp. Cứ như vậy kéo dài mãi đến năm 2008, mất 10 năm căn nhà mới được xây xong. Khi xây tường bao quanh sân, do bức tường phía Nam nhà tôi đối diện thẳng ra đường lớn, theo phong tục ở nông thôn, cần phải viết chữ gì đó lên tường rào để trừ tà. Lúc đó bố chồng hỏi ý kiến anh cả, anh rất có chính niệm, nói với ông rằng: “Bố viết chữ gì cũng không bằng viết chữ Pháp Luân Đại Pháp hảo! Chân-Thiện-Nhẫn hảo!” Bố chồng tôi rất đồng tình, liền cầm một phiến đá dài nhờ thợ đá khắc bốn chữ lớn, rồi đem phiến đá khắc chữ “Chân-Thiện-Nhẫn hảo” này gắn lên tường đối diện thẳng với trục đường chính. Chỉ cần người nào đi trên con đường này, ngẩng đầu lên đều có thể nhìn thấy bốn chữ ấy.

Mười mấy năm qua, khi làm việc chúng tôi luôn coi mình là đệ tử Đại Pháp; khi biết đất bị chú ba lấn chiếm, chúng tôi coi như không biết; nhưng khi chú có tranh chấp đất đai lâu năm với người khác, anh cả tôi đã nhờ bạn học của mình giúp họ giải quyết để họ có thể xây được nhà mới. Khi chú hai vì muốn xây thêm hai gian nhà đã chắn mất lối đi vào ngôi nhà cũ của chúng tôi, chúng tôi cũng không tính toán, khi chú muốn xây tường bao quanh sân rồi bảo chúng tôi nhường thêm một phần đất, chúng tôi cũng đồng ý. Một người chú họ cách một bức tường từng có ân oán nhiều năm trước với bố chồng tôi vì chuyện tường rào, chúng tôi chưa bao giờ nhắc lại chuyện này; khi chúng tôi bỏ ra mấy vạn tệ xây xong nhà để xe, con trai của chú họ hỏi mượn chồng tôi chìa khóa nhà xe để đỗ xe, chồng tôi không nói lời nào liền đưa chìa khóa cho chú ấy; một người em họ của chồng khi học đại học ở nhà tôi, tôi cũng gián tiếp giúp đỡ họ, gia đình chú họ rất cảm kích vì điều đó.

Cách đối nhân xử thế của chúng tôi được truyền tụng rộng rãi trong gia tộc và trong thôn, khiến những lời dối trá bôi nhọ của tà ác về Đại Pháp hoàn toàn vô hiệu. Khối đá khắc chữ “Chân-Thiện-Nhẫn hảo” ấy suốt mười mấy năm qua đã gánh vác sứ mệnh trợ Sư cứu người trong mưa gió. Chưa từng có ai vì điều này mà đến gây phiền phức cho chúng tôi.

4.Học sinh của tôi nói: “Cô là một giáo viên tốt, một giáo viên lương thiện”

Năm 2012, tôi bị Đội An ninh Nội địa phối hợp với cảnh sát đồn công an địa phương bắt cóc, họ mưu toan ngụy tạo chứng cứ để kết án tôi, xem liệu tôi có giảng chân tướng cho học sinh và đồng nghiệp của mình không.

Một hôm, đội trưởng Đội An ninh Nội địa đến thẩm vấn, tôi yêu cầu họ cân nhắc hoàn cảnh gia đình của tôi mà trả tự do cho tôi, tôi nói mình không phạm tội, các anh có thể điều tra tất cả những người tôi từng tiếp xúc xem họ đánh giá về tôi thế nào? Anh ta nói: “Chúng tôi đã điều tra học sinh và lãnh đạo của cô rồi, học sinh của cô nói cô là một giáo viên tốt, một giáo viên lương thiện.”

Tôi hỏi: “Lãnh đạo của tôi nói về tôi thế nào?” Anh ta ngập ngừng một lúc rồi không nói ra. Tôi cảm thấy lãnh đạo của mình tuyệt đối không nói xấu mình; lúc đó bọn họ đang tìm kiếm cái gọi là chứng cứ, nếu có nói xấu thì anh ta nhất định sẽ không bỏ qua.

Anh ta nói tiếp: “Nói cô không chăm sóc con cái thì cũng không phải, con cô 12, 13 tuổi đã thi đậu đàn Cổ tranh cấp tám, vào học trường trung học trọng điểm.” Đây đều là những thông tin họ tìm hiểu được sau khi bắt cóc tôi.

Tôi nói: “Đã như vậy, tại sao anh không báo cáo lên cấp trên?” Anh ta nói: “Tôi có báo cáo, vì chuyện của cô mà tôi còn cãi nhau với lãnh đạo đấy.” Cuối cùng, họ lấy lý do tôi kiên định luyện Pháp Luân Công để giam giữ tôi trong trại lao động cưỡng bức phi pháp một năm.

Tôi không biết học sinh nào đã dành cho tôi sự đánh giá cao đến vậy; kỳ thực, chiểu theo tiêu chuẩn của Chân-Thiện-Nhẫn, tôi còn kém xa lắm, nhưng mười mấy năm qua, tôi đã nỗ lực làm theo tiêu chuẩn này: tôi chưa từng vì việc tư mà bỏ bê việc công; không làm giả, dối trá; luôn tận tâm tận lực dạy tốt từng tiết học, không mỉa mai học sinh, thiện đãi học trò; những công việc người khác không muốn làm, cấp trên phân công tôi chưa từng một lời oán thán. Hơn 20 năm qua, nhân cách của tôi ai ai cũng thấy rất rõ, tôi không tranh không giành lợi ích, quan hệ với đồng nghiệp vô cùng hòa thuận; lãnh đạo trực tiếp cũng rất chính trực, trong nhiều năm tà đảng sách nhiễu chúng tôi, họ cũng đã chịu áp lực để nói tốt cho chúng tôi.

Sau khi kết thúc thời gian bị lao động cưỡng bức phi pháp trở về, tôi đã đi cùng người thân tìm đến hiệu trưởng, vị bí thư này hiểu tôi là người như thế nào. Vì vậy, dưới sự bảo vệ của ông ấy, tôi đã được quay trở lại bục giảng.

Lời kết

Chính Pháp đã trải qua 26 năm, trên con đường tu luyện tôi từng vấp ngã, từng bàng hoàng, cũng từng trải qua những kiếp nạn sinh tử cả về thể xác lẫn tinh thần, nhưng nhiều hơn cả là lòng cảm ân. Nhờ học Đại Pháp, tôi mới không trượt xuống vực sâu trong dòng thác đục ngầu của dục vọng; nhờ học Đại Pháp, tôi mới minh bạch được ý nghĩa của kiếp nhân sinh, là phản bổn quy chân; cũng nhờ học Đại Pháp, tôi mới nhận rõ phương hướng và sức mạnh trên đường đời.

Hiện nay, trong đợt “xóa sổ” của Trung Cộng, đơn vị dưới sự uy hiếp của “Phòng 610” đã ép buộc tôi chuyển vị trí công tác, tôi không còn đứng lớp giảng dạy nữa, cũng nhờ đó mà có nhiều thời gian để làm những việc mình nên làm. Chồng tôi sau khi từ oan ngục trở về nhà đã nhanh chóng quy chính lại bản thân, phát huy sở trường chuyên môn để cống hiến cho các hạng mục Đại Pháp. Điều đáng an ủi hơn là người con từng chịu nhiều gian truân từ nhỏ của tôi — do vợ chồng tôi nhiều lần bị tà đảng bắt cóc, nhiều lần vắng bóng cha mẹ nhưng dưới sự bảo hộ từ bi của Sư phụ và sự chăm sóc của đông đảo người thân, bạn bè cùng các đồng tu — đã từ một tiểu đệ tử Đại Pháp lớn lên thành một thanh niên; cháu không bị dòng đời ô trọc đào thải, sau khi tốt nghiệp đại học đã thuận lợi có được công việc. Hôm nay, cháu cũng đang dùng phương thức của mình để thực hành Chân-Thiện-Nhẫn, cùng chúng tôi đồng hành trên con đường trợ Sư chính Pháp.

Con xin cảm ân Sư phụ! Cảm ơn các đồng tu! Cảm ơn những người hữu duyên đã từng giúp đỡ chúng tôi!

Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2025/12/10/501559.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2026/8/7/235429.html