Bài viết của đệ tử Đại Pháp tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc

[MINH HUỆ 08-05-2026] Cuối năm 1998, tôi cùng vợ bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, cùng bước đi trên con đường tu luyện mà Sư phụ an bài. Sau đại dịch virus Trung Cộng (viêm phổi Vũ Hán), việc tu luyện của chúng tôi dường như gặp phải nút thắt, cảm thấy có một số điều gì đó không thể đột phá. Từ năm 2021, vợ chồng tôi cùng các đồng tu bắt đầu học thuộc “Chuyển Pháp Luân”. Đến nay, chúng tôi đã học thuộc đến lần thứ tư. Trong quá trình học thuộc Pháp, trạng thái tu luyện của mỗi người đều đã có sự thay đổi về bản chất, đồng thời thể ngộ sâu sắc sự huyền diệu của Đại Pháp.

Khi học thuộc “Chuyển Pháp Luân” lần thứ nhất và thứ hai, chúng tôi học thuộc từng đoạn một. Vào giai đoạn đầu học thuộc Pháp, không ai có cảm nhận rõ rệt, chỉ dùng tư duy của người thường để học thuộc. Sau khi không ngừng học thuộc Pháp, chúng tôi phát hiện có không ít chỗ trong “Chuyển Pháp Luân” dường như nhìn thấy lần đầu; trước đây tuy đọc rất nhiều lần nhưng không hề có ấn tượng. Tiếp tục học thuộc, chúng tôi thường có những lĩnh ngộ mới về một số phần; đồng thời cũng thường gặp những khảo nghiệm tâm tính liên quan đến nội dung  Pháp đang học thuộc, từ đó đề cao hơn trong thực tu và tu được vững chắc hơn đối với vấn đề ấy.

Khi học thuộc “Chuyển Pháp Luân” lần thứ ba và thứ tư, chúng tôi học thuộc từng bài giảng một. Không chỉ cần học thuộc nội dung từng đoạn, mà còn phải nhớ được mối liên hệ giữa các đoạn. Nhờ vậy, sự lĩnh ngộ về Pháp không còn giới hạn ở từng điểm riêng lẻ, dần dần bắt đầu có nhận thức toàn diện; cho dù lĩnh ngộ và đề cao từ điểm nào cũng đều là đang lĩnh ngộ nội hàm sâu hơn của Pháp.

Ngoài việc cảm nhận sự thăng hoa trong nhận thức về Pháp lý, chúng tôi còn cảm nhận được những thay đổi nội tại do học thuộc Pháp mang lại: trong quá trình học thuộc Pháp, các quan niệm chuyển biến, chấp trước và dục vọng suy yếu, bản tính dần hiển lộ. Sự thay đổi này thể hiện ra trong tu luyện: trước khi học thuộc Pháp, việc tu luyện của tôi ở trong trạng thái hỗn độn, cảm tính. Khi gặp vấn đề, tôi dùng cách của người thường để tìm Pháp lý rồi áp vào, cảm thấy việc tu luyện có phần gượng gạo, không tự nhiên. Sau khi học thuộc Pháp, tu luyện dần bước sang trạng thái tỉnh táo, lý tính; Pháp lý trở nên rõ ràng hơn, chính niệm ngày càng đầy đủ hơn. Việc học thuộc Pháp và thực tu đã mang lại sự đề cao về tâm tính cũng như cảnh giới, từ đó khiến toàn bộ việc tu luyện cũng được đề cao một cách toàn diện.

1. Học được cách thực tu 

Không lâu sau khi chúng tôi đắc Pháp, Trung Cộng bắt đầu bức hại Pháp Luân Đại Pháp. Trong cuộc phản bức hại, tôi bận rộn làm việc, suốt một thời gian dài không biết thế nào là tu luyện chân chính. Trong người thường, tôi làm các việc rất giỏi. Khi phát hiện bản thân có khuyết điểm hoặc thiếu sót gì, tôi liền sửa đổi từ hành vi; cách làm này rất dễ thấy, hiệu quả cũng rõ ràng.

Sau khi bước vào tu luyện, tôi mang theo thói quen làm người tốt trong người thường vào trong tu luyện: Khi phát hiện bản thân có tâm hiển thị, tôi liền tự ước thúc hành vi, không chứng tỏ bản thân nữa; con của người bạn có thành tích không bằng con mình nhưng lại được nhận vào trường tốt hơn, trong tâm khó chịu, tôi biết đó là tâm tật đố, liền gọi điện chúc mừng bạn để biểu hiện từ hành vi rằng mình đã bỏ tâm tật đố; đồng tu nói tâm sợ hãi của tôi nặng, tôi liền làm việc quyết liệt hơn trong phản bức hại, dùng điều đó để chứng tỏ tâm sợ hãi đã mất; ba việc cũng cố gắng làm; khi học Pháp hoặc giao lưu với đồng tu mà ngộ được Pháp lý thì liền chiểu theo Pháp lý ấy để làm. Bề ngoài dường như rất tinh tấn, nhưng cảnh giới lại luôn đề cao rất chậm.

Thông qua học Pháp, tôi nhận ra cái “làm” của mình đang thay thế cho “luyện”, còn cái tâm ấy lại chưa được “tu”. Khi tôi thực sự bắt đầu tu tâm, tôi phát hiện trong tu luyện mình bỗng nhiên khai khiếu; rất nhiều vấn đề trước đây khiến tôi vướng mắc đều được giải quyết dễ dàng.

Trước đây, khi gặp vấn đề trong tu luyện, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là phải làm thế nào, làm thế nào mới được coi là đạt tiêu chuẩn của người tu luyện. Hiện nay, trước hết tôi xem bản thân đã khởi tâm gì, có chấp trước gì, rồi tu cái tâm ấy. Tiếp đó, tôi xem điểm xuất phát khi suy xét vấn đề là vị tư hay vị tha; là thực sự suy nghĩ cho người khác, hay là vì để bản thân làm người tốt, từ đó tu bỏ tâm vị tư. Tôi cũng xem mình đứng trên cơ điểm nào để suy nghĩ cho người khác: là để đối phương có được lợi ích trong người thường, hay là chịu trách nhiệm cho tương lai của sinh mệnh ấy; cần nhận thức vấn đề từ xuất phát điểm của tu luyện Chính Pháp. Còn làm thế nào thì tùy theo cảnh giới bản thân đạt được mà chiểu theo tiêu chuẩn của cảnh giới ấy để làm; đề cao tâm tính mới là căn bản.

Tiền đề của tu tâm là phải biết hướng nội tìm. Hướng nội tìm vô điều kiện mới là hướng nội tìm chân chính. Theo thể ngộ của tôi, “vô điều kiện” là không sa vào bản thân sự việc, không sa vào mâu thuẫn giữa hai bên, không sa vào đúng sai của người thường; chỉ xem tâm mình đã động như thế nào. Tìm đúng rồi mới có thể tu một cách có mục tiêu và đề cao.

2. Tu bỏ chấp trước căn bản, để “chân ngã” làm chủ

Nắm được Pháp bảo hướng nội tìm này, tôi lập tức phơi bày cái vỏ của việc “làm tốt”, nhìn thấy đủ loại tâm chấp trước ẩn giấu bên trong. Tôi liền thuận theo từng tâm chấp trước ấy để đào tận gốc. Bắt đầu từ tâm sợ hãi: tu luyện thần thánh như vậy, tại sao tôi vẫn còn sợ? Sợ làm không tốt rồi bị bức hại. Tại sao sợ bị bức hại? Vì bị bức hại thì bản thân phải chịu khổ, không muốn chịu khổ; sẽ mang đến đau khổ cho người thân, tình thân bị tổn thương; sẽ ảnh hưởng sự nghiệp, danh lợi bị tổn thất; mọi phương diện lợi ích hiện thực của “tôi” đều bị tổn thất. Đã sợ mất mát như vậy, tại sao còn tu luyện? Bởi vì vũ trụ cũ sắp hoại diệt, không tu luyện thì cũng không còn lối thoát; chỉ có tu luyện mới khiến “tôi” trường tồn. Để “tôi” có thể đồng thời có được lợi ích hiện thực lẫn tương lai, tôi liền cố gắng làm ba việc với tiền đề bảo đảm an toàn tối đa, tìm sự cân bằng giữa việc bản thân không bị bức hại và kiên trì tu luyện.

Sau đó, tôi lại bắt đầu tìm tâm tật đố, tâm hiển thị và tâm tranh đấu. Tìm tới tìm lui, lần theo đầu mối, cuối cùng tất cả đều quy về cái gốc rễ “tôi” trong sinh mệnh. Nó tập hợp mọi quan niệm, chấp trước và dục vọng trong sinh mệnh tôi; hết thảy những gì nó làm đều là để thân tâm tôi đạt được sự thỏa mãn tối đa. Nó có thể cân bằng các loại quan niệm, ở những giai đoạn khác nhau của đời người, căn cứ vào những nhu cầu khác nhau mà đưa ra các lựa chọn khác nhau, khiến tôi phải phấn đấu, tranh đấu vì nó. Đó chính là “giả ngã” đã luôn chi phối tôi trước khi tu luyện; tôi tồn tại vì “giả ngã” này, còn “chân ngã” thuộc bản tính tiên thiên thì bị che lấp. Vào khoảnh khắc tôi tiếp xúc với Đại Pháp và thực sự bước vào tu luyện Đại Pháp, “chân ngã” đã được đánh thức. Trong quá trình học Pháp, “chân ngã” đồng hóa với Pháp, còn “giả ngã” sẽ trở thành trở ngại trong tu luyện.

Trong bài “Hướng tới viên mãn”, Tinh Tấn Yếu Chỉ II, Sư phụ đã giảng Pháp về chấp trước căn bản. Trước kia, tôi không hiểu sâu bản chất của chấp trước căn bản là gì, vì sao không bỏ chấp trước căn bản thì không phải thực tu, không được tính là đệ tử của Sư phụ, v.v. Khi nhìn rõ “giả ngã”, tôi bỗng nhiên minh bạch: trong Đại Pháp, chỉ cầu sự viên mãn tu luyện cá nhân, đó chính là chấp trước căn bản của tôi. Tu luyện Đại Pháp là hướng đến viên mãn, nhưng viên mãn trong tu luyện Đại Pháp là cảnh giới tự nhiên đạt được sau khi tu xuất vô tư vô ngã; còn “viên mãn” mà “giả ngã” chấp trước lại là sự truy cầu chấp trước cá nhân.

Tôi ngộ ra rằng, nếu mang mục đích vị tư để tu luyện trong Đại Pháp thì sẽ không có đề cao thực chất, cũng không thể thực sự tu tiếp; chẳng phải như vậy là giả tu sao? Làm sao có thể được tính là đệ tử của Sư phụ? Khi tìm chấp trước căn bản, không thể chỉ đơn giản tìm ra suy nghĩ lúc mình mới nhập môn rồi coi là xong; còn phải đào sâu theo tuyến ấy, xem trong tu luyện bản thân còn ẩn giấu những tâm vị tư nào, còn ôm giữ những mục đích vị tư nào. Tất cả suy nghĩ muốn mượn Đại Pháp để đạt được mục đích vị tư cá nhân đều thuộc về chấp trước căn bản, đều là điều mà đệ tử chân tu nhất định phải tu bỏ.

Trong tu luyện, tôi vẫn không biết làm thế nào mới có thể tu xuất từ bi, làm thế nào mới có thể tu xuất vô tư vô ngã. Không ngờ rằng, trong quá trình học thuộc Pháp, khi nhìn rõ “giả ngã”, làm suy yếu “giả ngã”, để bản tính của “chân ngã” hiển lộ, thì điều tự nhiên bộc lộ ra chính là từ bi, chính là vô tư. Khi gặp vấn đề trong tu luyện, chiểu theo phản ứng tự nhiên từ bản tính mà làm, đó chính là hành vi của cảnh giới chân thực của bản thân. Nếu chưa đạt tiêu chuẩn thì tiếp tục tu cái tâm ấy trong Pháp, thăng hoa tới cảnh giới cao hơn.

3. Đạt đến cảnh giới tu luyện Chính Pháp, phủ định cựu thế lực từ căn bản

Trong tu luyện, tôi luôn yêu cầu bản thân đi trên con đường tu luyện Chính Pháp, phủ định cựu thế lực từ căn bản. Nhưng khi gặp vấn đề, tôi thường xem đó như một phương pháp hoặc một góc độ để nhận thức vấn đề, máy móc áp dụng Pháp lý nên không thể đạt đến tiêu chuẩn của Pháp. Khi “chân ngã” hiển lộ, tôi bỗng nhận ra rằng tu luyện Chính Pháp thực ra là một cảnh giới tu luyện chân thực. Khi tôi đạt tới cảnh giới hết thảy vì chúng sinh, tự nhiên sẽ đứng trên góc độ cứu độ chúng sinh để đưa ra lựa chọn; đó chính là đang bước đi trên con đường tu luyện Chính Pháp.

Tu luyện Chính Pháp của đệ tử Đại Pháp và tu luyện cá nhân của vũ trụ cũ khác nhau từ căn bản. Đệ tử Đại Pháp là theo Sư phụ hạ thế để trợ Sư Chính Pháp. Sư phụ căn bản không thừa nhận an bài của cựu thế lực. Nếu bản thân đệ tử Đại Pháp cũng có thể nhìn rõ hết thảy điều này, cũng có thể không thừa nhận hết thảy điều này, thì Sư phụ sẽ làm chủ cho những đệ tử thực tu, để chúng ta bước đi trên con đường tu luyện Chính Pháp.

Sau khi tu luyện, nếu không thể chủ động dùng Đại Pháp để thay đổi bản thân từ bản chất, ôm giữ chấp trước căn bản không bỏ, ôm giữ các loại quan niệm không buông, mặc cho “giả ngã” làm chủ bản thân, tu luyện vì viên mãn cá nhân, thì bất kể ngoài miệng nói không thừa nhận cựu thế lực thế nào, thực chất vẫn đang đi trên con đường tu luyện cá nhân. Tỉnh táo để “chân ngã” làm chủ, bỏ điểm xuất phát vị tư, trong quá trình làm tốt ba việc mà tu luyện tâm tính, chịu khổ tiêu nghiệp, đó mới là thực sự bước đi trên con đường tu luyện Chính Pháp, đó mới là phủ định cựu thế lực từ căn bản.

4. Cùng tinh tấn trong quá trình học thuộc Pháp

Cùng học thuộc Pháp với vợ chồng tôi còn có các đồng tu trong nhóm học Pháp của chúng tôi, và các đồng tu hữu duyên cùng bước đi trong quá trình này. Hầu như mỗi người đều có cải biến về bản chất.

Trong nhóm học Pháp của chúng tôi có một đồng tu, khi giảng chân tướng trên đường phố nhiều năm trước đã bị người không minh bạch chân tướng báo cáo, rồi bị bắt cóc. Sau khi đồng tu được thả ra, tôi, vợ tôi và đồng tu đã có lần giao lưu. Chúng tôi nhận thấy đồng tu rất thiện lương, cũng rất kiên định với Pháp, chỉ là trạng thái học Pháp không tốt, dễ buồn ngủ khi học Pháp. Theo lời của đồng tu: “Đầu óc như bị đờ ra, cảm thấy Pháp không vào được; đã dùng đủ phương pháp nhưng không có hiệu quả rõ rệt.” Khi ấy, chúng tôi quyết định thành lập một nhóm học Pháp tại nhà đồng tu, cùng một số đồng tu khác học Pháp.

Sau khi học Pháp tập thể, trạng thái của đồng tu có cải thiện, nhưng vẫn chưa giải quyết được từ căn bản. Vì vậy, chúng tôi quyết định cùng nhau học thuộc Pháp. Để đồng tu không có tâm sợ khó, chúng tôi quyết định bắt đầu bằng việc học thuộc “Hồng Ngâm”, sau đó học thuộc “Tinh Tấn Yếu Chỉ”. Từ năm 2021, chúng tôi lại bắt đầu cùng nhau học thuộc “Chuyển Pháp Luân”.

Trong quá trình học thuộc Pháp, đồng tu nhiều lần nói: “Cảm thấy trên đầu như mở ra một khe hở, không ngừng có ánh sáng chiếu vào, có cảm giác sắp khai khiếu.” Đồng tu này rất tinh tấn; tuy tuổi tác lớn hơn chúng tôi và trình độ văn hóa không cao, nhưng chưa bao giờ tụt lại trong việc học thuộc Pháp. Đồng tu cũng yêu cầu nghiêm khắc đối với bản thân, đòi hỏi học thuộc không sai một chữ, thường học thuộc còn tốt hơn chúng tôi.

Hiện nay, trạng thái học Pháp của đồng tu rất tốt, như biến thành một người khác; nhận thức về Pháp lý rất rõ ràng, ba việc cũng làm rất tốt. Vì tự mình trải nghiệm lợi ích của việc học thuộc Pháp, đồng tu còn thành lập thêm các nhóm học Pháp khác, dẫn dắt các đồng tu khác cùng học thuộc Pháp.

Còn một đồng tu khác bị can nhiễu bởi nghiệp bệnh nên không ngủ được, biểu hiện giả tướng trầm cảm nghiêm trọng, đến mức ngay cả việc học Pháp và luyện công cơ bản cũng không thể bảo đảm. Tôi và vợ cùng học Pháp, giao lưu với đồng tu; kiên trì một thời gian nhưng không có chuyển biến rõ rệt. Đồng tu đều minh bạch Pháp lý, nhưng lại không làm được.

Tôi nói với đồng tu: “Tôi nhớ trên Minh Huệ Net có bài giao lưu từng viết một câu như thế này: Tu luyện không có đường tắt; nếu nói có đường tắt thì đó là học thuộc Pháp. Chỉ có Pháp mới thực sự giúp bạn bước ra khỏi ma nạn.” Đồng tu nghe vậy có phần sợ khó: “Hiện nay đầu óc tôi cả ngày choáng váng, không biết có thể học thuộc được không.” Tôi động viên đồng tu: “Học thuộc Pháp không nằm ở số lượng; tùy theo tình huống của bản thân, học thuộc được bao nhiêu thì học bấy nhiêu, học thuộc vẫn tốt hơn không học thuộc.” Đồng tu liền đồng ý.

Chúng tôi hẹn nhau dùng hai tuần để học thuộc phần “Chân chính đưa con người lên cao tầng” của Bài giảng thứ nhất trong “Chuyển Pháp Luân”. Hai tuần sau, chúng tôi gặp nhau đúng hẹn. Mọi người không nhìn sách, mỗi người lần lượt học thuộc một đoạn. Sau khi học thuộc xong phần đầu, đồng tu nói vẫn có thể học thuộc tiếp; chúng tôi liền tiếp tục, học thuộc mãi đến phần “Khí công chính là tu luyện”, tổng cộng đã học thuộc một nửa bài giảng thứ nhất. Trạng thái tinh thần của đồng tu cũng có chuyển biến rõ rệt, mọi người đều rất vui mừng.

Chúng tôi hẹn tiếp tục học thuộc theo tiến độ mỗi nửa bài giảng trong hai tuần. Đến giờ, “Chuyển Pháp Luân” sắp được học thuộc xong. Trong quá trình học thuộc Pháp, đồng tu đã bước ra khỏi giả tướng nghiệp bệnh, hiện giờ hoàn toàn tu luyện, sinh hoạt và làm việc bình thường.

Còn có một đồng tu đang trong trạng thái bị nhân viên tà ác giám sát, không có môi trường học Pháp tập thể cố định. Trong trạng thái này, nếu không thể bảo đảm học Pháp thì hoàn cảnh sẽ càng nguy hiểm hơn. Trước tình huống ấy, chúng tôi quyết định dùng phương thức học thuộc “Chuyển Pháp Luân” để bảo đảm học Pháp, mỗi tháng học thuộc một bài giảng hoặc nửa bài giảng. Trước đây đồng tu ấy từng học thuộc “Chuyển Pháp Luân”, nhưng lần nào cũng dừng lại trước khi học thuộc xong Bài giảng thứ nhất. Lần này, đồng tu học thuộc Pháp rất nghiêm túc, rất nỗ lực, luôn kiên trì và hiện đã học thuộc đến Bài giảng thứ sáu. Theo lời người nhà đồng tu, mỗi ngày đồng tu đều dậy từ rất sớm để học thuộc Pháp. Thấy đồng tu có trạng thái học Pháp tốt như vậy, mọi người trong tâm đều rất vui mừng.

Tất cả đồng tu tham gia học thuộc Pháp chúng tôi đều có một cảm nhận chung: quá trình học thuộc Pháp chính là quá trình đồng hóa với Pháp, cũng là quá trình tu luyện. Tâm không tĩnh thì không thể học thuộc Pháp; phần nào nhận thức chưa đến nơi, tu luyện chưa đến nơi, thì học thuộc sẽ rất khó; không có ý chí và quyết tâm tu luyện kiên định thì rất khó kiên trì; rời khỏi môi trường tập thể của nhóm học Pháp, một mình cũng rất khó kiên trì tiếp tục.

Đến nay, tất cả các đồng tu kiên trì học thuộc Pháp đều thể nghiệm sự đề cao thực chất mà học thuộc Pháp mang lại cho tu luyện của bản thân. Xung quanh chúng tôi cũng ngày càng có nhiều đồng tu tham gia hàng ngũ học thuộc Pháp. Nếu không thể tĩnh tâm học Pháp, thì học thuộc Pháp quả thực là một phương pháp tốt để học Pháp đắc Pháp.

Trên đây là thể ngộ cá nhân, nếu có chỗ nào không phù hợp với Pháp, mong các đồng tu từ bi chỉ chính.

(Phụ trách biên tập: Trình Cẩn

Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2026/5/8/508592.html