Bài viết của Tiểu Ca

[MINH HUỆ 11-08-2026] Trên các mạng xã hội tự do (we media), có một quan điểm được rất nhiều người hâm mộ theo dõi, chính là hiện tại là “thời kỳ hoàng kim nhất trong lịch sử” Trung Quốc, mức sống của người dân đã được nâng cao, công nghiệp phát triển, đường sắt cao tốc tiện lợi, khoa học công nghệ tiên tiến, v.v. Khách quan mà nói, đúng là như vậy, trong các thành phố xe cộ tấp nập, nhà cao tầng san sát, gần như không có gì khác biệt so với các quốc gia phương Tây, thậm chí phương Tây còn phụ thuộc vào các sản phẩm công nghiệp giá rẻ, đa dạng của Trung Quốc. Nhưng sự hào nhoáng và hiện đại của các thành phố không tương đồng với điều kiện sống của toàn bộ người dân Trung Quốc ở giai tầng thấp, giữa hai điều này tồn tại một “điểm mù” lớn vốn đã bị phớt lờ trong một thời gian dài.

Thuật ngữ “công nông dân” (nông dân rời quê đi làm công nhân) nghe vô cùng quen thuộc đối với người Trung Quốc. Trong quá trình công nghiệp hóa với quy mô lớn diễn ra suốt mấy thập kỷ qua, việc hàng trăm triệu nông dân lên thành phố làm thuê được coi là điều hiển nhiên. Những người bình thường hiếm khi suy ngẫm rằng: Tại sao các quốc gia hiện đại khác không có khái niệm “công nông dân” này? Tại sao những công nông dân này vừa là công nhân công nghiệp vừa là thợ xây, mà “công nông dân” ở Trung Quốc lại bị loại bỏ khỏi hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi hưu trí chính thức của thành phố trong thời gian dài?

Những người có tầm nhìn ở phương Tây đã chỉ ra rằng, phép màu kinh tế của Trung Quốc trong 30 năm qua, về bản chất là “thể chế (ĐCSTQ) đã giảm thiểu sự ràng buộc đối với nhân dân”, cho phép sở hữu tài sản tư nhân, đưa vào cơ chế thị trường (gia nhập WTO), giải phóng hàng trăm triệu lao động “công nông dân” giá rẻ và cần cù, từ đó dẫn đến sự bùng nổ về sức sản xuất. Thế nhưng, trong các tuyên truyền của mình, ĐCSTQ lại nói rằng “thời kỳ hoàng kim” có được nhờ tích lũy bằng mồ hôi nước mắt của nhân dân Trung Quốc là nhờ “sự lãnh đạo của Đảng”. ĐCSTQ tự xưng là vị cứu tinh vĩ đại và là đại diện cho nhân dân Trung Quốc. Tuy nhiên, những người có hiểu biết trong cộng đồng quốc tế đang ngày càng nhấn mạnh rõ ràng rằng “ĐCSTQ không đồng nghĩa với Trung Quốc”.

Ai đang duy trì “công xưởng thế giới”?

Trung Quốc dưới sự cai trị của ĐCSTQ được mệnh danh là “công xưởng thế giới”, và nhân vật chính là nông dân Trung Quốc. Nông dân Trung Quốc bị Đảng gọi là “công nông dân”, và “công nông dân” là do ĐCSTQ tạo ra. Khắp các nhà máy lớn nhỏ trên toàn Trung Quốc, có bao nhiêu người lao động trong đó thực sự là “công nhân” theo đúng nghĩa?

Công nhân có phúc lợi và có hưu trí bình thường, nhưng ở Trung Quốc, những “công nhân” có phúc lợi và bảo đảm hưu trí bình thường chỉ là thiểu số. Lực lượng lao động đông đảo trên các dây chuyền sản xuất là ai? Đó chính là nông dân Trung Quốc. Họ bị gọi là “công nhân thuê ngoài”, “công nhân tạm thời”, không có phúc lợi và không được bảo đảm hưu trí bình thường. Theo thống kê chính thức của ĐCSTQ, tổng số công nông dân trên toàn quốc đã đạt 301,15 triệu người; trong đó, người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên lên tới 168 triệu người. Đây là một con số tàn khốc, tại sao lại như vậy? Đó là vấn đề về mức độ ưu tiên sử dụng vốn.

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nông dân và cư dân thành thị đều được hưởng đãi ngộ như nhau. Họ chỉ khác nhau về tính chất công việc chứ không có sự khác biệt cơ bản. Ví dụ như nông dân Đài Loan, họ cũng giống như cư dân thành thị, sau khi nghỉ hưu, lương hưu hàng tháng của nông dân Đài Loan là 8.110 Tân Đài tệ (tương đương khoảng 1.688 Nhân dân tệ), còn nông dân về hưu ở Đại lục thì sao? Là 163 Nhân dân tệ mỗi tháng (tương đương khoảng 730 Tân Đài tệ), chỉ bằng khoảng 9,6% của Đài Loan, không đủ để duy trì cuộc sống cơ bản.

Khi một người có bệnh tật hoặc gặp phải tai họa lớn, xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo cơ bản nhất, một xã hội bình an nên cung cấp sự bảo đảm cuộc sống và sinh tồn tối thiểu nhất, cơ bản nhất cho những người yếu thế không có khả năng lao động. Ví dụ như người cao tuổi mắc bệnh ung thư, chưa nói đến các quốc gia phát triển, ngay cả các quốc gia bình thường cũng có những chương trình hỗ trợ cộng đồng để người cao tuổi không phải mất sạch tài sản vì chữa trị ung thư.

Lấy Đài Loan làm ví dụ, nông dân mắc 30 loại “bệnh nặng” như ung thư sẽ được miễn phí toàn bộ; còn đối với người bình thường nằm viện sẽ có “hạn mức tự chi trả cá nhân”, nếu khoản viện phí tự trả của một cá nhân cả năm vượt quá khoảng 65.000 đến 70.000 Tân Đài tệ (khoảng 15.000 Nhân dân tệ), chính phủ sẽ thanh toán, điều này có thể giúp bệnh nhân không bị mất sạch gia sản vì mắc bệnh nặng, khiến cuộc đời từ đó mà tàn lụi. Thế nhưng, trong cái mà ĐCSTQ tự xưng là “thời kỳ hoàng kim nhất trong lịch sử”, cảnh ngộ của nông dân Trung Quốc khi mắc bệnh ung thư là gì? Chỉ có một phần trong “danh mục bảo hiểm y tế” được thanh toán, còn “thuốc tự chi trả” nằm ngoài “danh mục bảo hiểm y tế” thì không có giới hạn, dùng bao nhiêu phải trả bấy nhiêu, không thể thanh toán bằng bảo hiểm.

Nói cách khác, bảo hiểm y tế Đài Loan có chính sách miễn trừ cho các bệnh nặng và giới hạn mức tự chi trả hàng năm; trong khi ở Trung Quốc Đại lục, chi phí của các loại thuốc tự chi trả đã khiến vô số gia đình bình thường rơi vào cảnh nghèo đói, và phải gánh những khoản nợ khổng lồ vì bệnh tật. Trước những hóa đơn cao ngất ngưởng, nhiều nông dân Trung Quốc cuối cùng chỉ đành bất lực lựa chọn từ bỏ điều trị.

Nhìn mà chua xót: “Ba người con trai đáng tin cậy nhất”

Có phải là vì Trung Quốc Đại lục đông dân, không đủ tiền không?

ĐCSTQ đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với thu nhập kinh tế hàng năm khoảng 20.000 tỷ Nhân dân tệ, nhưng trong thứ tự ưu tiên chi tiêu tài chính, chi phí duy trì ổn định, ngân sách quân sự cùng các khoản đầu tư cho dự án “Vành đai và Con đường” ở nước ngoài và các loại viện trợ nước ngoài, thường lên tới hàng nghìn tỷ Nhân dân tệ hoặc hàng chục tỷ Đô la Mỹ. Nếu dựa trên sự quan tâm nhân đạo tối thiểu nhất, không tính phần cá nhân tự chi trả, thì chính phủ hoàn toàn có thể đảm bảo việc chi trả viện phí cho những ca bệnh nặng của các nhóm dân cư nông thôn cốt lõi — ngay cả khi tính thêm 1.000 Nhân dân tệ mỗi người mỗi năm cho “hỗ trợ đặc biệt chi phí tự trả đối với bệnh nặng”, thì với 200 triệu nhân khẩu nông nghiệp cốt lõi, cũng chỉ cần 200 tỷ Nhân dân tệ mỗi năm. Con số này chỉ chiếm 1% trong tổng thu nhập 20.000 tỷ Nhân dân tệ.

Chỉ cần “tận dụng” một chút từ bất kỳ dự án vĩ mô nào, khoản tiền này đều có thể được thực hiện. Tuy nhiên, sự ấm áp mang tính thể chế chiếm 1% này, cho đến nay vẫn cứ vắng mặt như thế ở Trung Quốc.

Theo một nghiên cứu 6 năm của giảng viên Lưu Diên Vũ thuộc khoa Xã hội học, Đại học Vũ Hán, khi đi sâu vào khảo sát thực địa tại 11 tỉnh thành bao gồm Hồ Bắc, Sơn Đông, Giang Tô, và công bố báo cáo “Nghiên cứu xã hội học về tình trạng tự sát ở người cao tuổi ở vùng nông thôn”, hiện tượng tự sát của người cao tuổi ở nông thôn Trung Quốc “đã nghiêm trọng đến mức nhìn mà chua xót”. Tại một số khu vực nông thôn, tỷ lệ tử vong do tự sát cao đến kinh ngạc, “ít nhất là 30%, và đây vẫn là một ước tính thận trọng”. Những dữ liệu điều tra thực địa xã hội học khốc liệt này đã phá vỡ ảo tưởng đồng quê nông thôn được tô vẽ một cách có chủ ý, và đối mặt trực tiếp với hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của tình trạng thiếu thốn chăm sóc do sự quản lý yếu kém ở vùng nông thôn Trung Quốc dưới làn sóng già hóa dân số.

Trong quá trình khảo sát, người ta phát hiện ra rằng tại một vùng nông thôn nọ lưu truyền một câu nói: “Người già ở chỗ chúng tôi đều có ba người con trai: con trai thuốc (uống thuốc trừ sâu), con trai dây (treo cổ tự tử) và con trai nước (đuối nước). Trong mắt họ, ba người con trai này là đáng tin cậy nhất.”

Một cư dân mạng ở Hồ Bắc đã đăng bài nói rằng: “Phần lớn người già trong làng chúng tôi đều ra đi vì uống thuốc.” “Bà nội tôi, ông nội của em họ tôi, bà lão nhà đối diện, bà lão cạnh nhà đối diện, ông lão hàng xóm… rất nhiều người trong số họ đã ra đi như vậy.” Bởi vì họ không sống nổi. Việc nông dân Trung Quốc bình thản tìm đến tự sát để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho gia đình đã được giới học thuật gọi là “nhìn mà chua xót”.

Tại sao một quốc gia mà chính phủ nắm trong tay rất nhiều tiền, lại không giải quyết được vấn đề sinh tồn và y tế cơ bản của mấy trăm triệu nông dân Trung Quốc? Khi ĐCSTQ cướp chính quyền vào năm 1949, và từ những năm 1950, nông dân Trung Quốc đã bị hạ xuống thành công dân hạng hai, đến nay vẫn vậy. “Đánh cường hào, chia ruộng đất” chỉ là thủ đoạn và tuyên truyền lợi dụng nông dân để giành chính quyền.

Trong mắt chủ nghĩa cộng sản, con người là động vật, là công cụ lao động, mạng sống như cỏ rác. Có người nói, hiện nay chẳng phải đang có chương trình “xóa đói giảm nghèo” sao? Đúng là có, nhưng đó là dành cho các khu vực biên giới, vùng sâu vùng xa, vùng nghèo đói (chỉ “khu căn cứ cách mạng cũ”, v.v.), có sự phân biệt nghiêm ngặt. Thế nhưng, chính những vùng nông thôn bình thường được xác định là nằm ngoài mức nghèo khổ (như Hồ Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, v.v.) lại đang phải đối mặt với tình trạng người cao tuổi bị bỏ lại quê nhà không có điều kiện sống, sự sụp đổ của lòng hiếu thảo truyền thống, và không có mạng lưới an sinh công cộng hỗ trợ các ca bệnh nặng v.v.

Những vấn đề này rất phổ biến, thường được gọi là vấn đề xã hội “linh hoạt”, nhưng trên thực tế lại là những yếu tố “cứng nhắc” đe dọa tính mạng của người cao tuổi ở nông thôn. ĐCSTQ lại dùng những cái cớ như vấn đề lịch sử, thể chế kép thành thị — nông thôn v.v., để coi rẻ sinh mạng của người cao tuổi ở nông thôn mãi.

Vào thời Thế chiến II, ngay cả chính quyền Phát-xít, để củng cố sự thống trị của mình, cũng coi nông dân của họ là nền tảng như “máu và đất”, cung cấp cho họ sự bảo đảm về đất đai và tiêu chuẩn phúc lợi xã hội cơ bản, không bị thiếu vốn. Thế nhưng, đối với ĐCSTQ, chủ nghĩa nhân đạo lại bị ruồng bỏ một cách triệt để.

Vì sao con đường tự cứu lấy mình của họ lại bị tước đoạt?

Khi hàng trăm triệu người dân ở tầng đáy của xã hội đang phải đối mặt với tình trạng “có bệnh không nơi chữa trị, người già không ai phụng dưỡng”, thậm chí bị dồn vào bước đường cùng, nếu có xuất hiện một môn tu luyện truyền thống, không tiêu tốn một đồng nào, và thực tế đã được nhiều người công nhận là có thể cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần một cách hiệu quả, thì tại sao không những không nhận được sự khoan dung và khích lệ, mà ngược lại còn chịu sự đàn áp khắc nghiệt kéo dài hàng chục năm? Để thấu hiểu hiện tượng này, thông thường cần phải thoát ra khỏi logic kinh tế hoặc y tế đơn thuần, để soi xét từ nguyên nhân sâu xa của sự kiểm soát xã hội, thể chế chính trị và hệ tư tưởng.

Dưới một thể chế tập trung cao độ, ĐCSTQ không chỉ kiểm soát các nguồn lực chính trị, kinh tế và dư luận, mà còn ra sức thiết lập sự kiểm soát tuyệt đối đối với thế giới tinh thần và các hình thức tổ chức của người dân.

Tại Trung Quốc, một số người cao tuổi ở nông thôn tự phát tập luyện, không tiêu tốn một đồng nào của nhà nước, khiến cơ thể có được sức khỏe, nhưng lại phải chịu sự đàn áp tàn khốc của ĐCSTQ. Ví dụ như bà Vương Á Cần ở Cát Lâm, năm 2004 do xuất hiện khối u 3,3 x 3,5cm ở phổi trái, năm lần hóa trị đều không có hiệu quả, tế bào ung thư đã di căn. Khi trở về nhà chị gái ở nông thôn, tình cờ bà nghe được từ người hàng xóm về việc tu luyện Pháp Luân Công, bà mang tâm thái muốn thử xem sao và bắt đầu tu luyện. Chỉ vỏn vẹn trong một tuần, cơ thể của bà đã có những chuyển biến tốt một cách thần kỳ: có thể xuống giường đi lại, không còn cần người chăm sóc. Một tháng sau, căn bệnh ung thư đã hoàn toàn biến mất. Tất cả mọi người trong làng đều tận mắt chứng kiến sự hồi phục của bà. Nhưng một tháng sau, cảnh sát của ĐCSTQ đã bắt giữ bà Vương Á Cần, không cho bà tu luyện. Bà Vương Á Cần vẫn kiên trì đức tin, và giảng chân tướng cho cảnh sát. Năm 2020, bà lại một lần nữa bị ĐCSTQ bắt cóc, và bị kết án phi pháp 5,5 năm tù giam.

Dưới sự cai trị của ĐCSTQ, các học viên Pháp Luân Công tuân theo Chân-Thiện-Nhẫn, vừa có lợi cho mình, vừa có ích cho gia đình và xã hội, lại bị bức hại tàn khốc suốt 27 năm qua, và đến nay vẫn tiếp diễn. Theo số liệu thống kê của Minh Huệ Net, nửa đầu năm 2026 đã ghi nhận được ít nhất 279 học viên Pháp Luân Công ở Đại lục bị ĐCSTQ kết án phi pháp, trong đó có 142 học viên Pháp Luân Công cao niên trên 60 tuổi, chiếm 51%; trong đó có 77 người từ 60-69 tuổi, 50 người từ 70-79 tuổi, 14 người từ 80-89 tuổi, và 1 người trên 90 tuổi.

Trong các báo cáo của Minh Huệ Net, mỗi ngày đều có thể thấy một số trường hợp người tu luyện có được sức khỏe thể chất và tinh thần nhờ luyện công; từ ngày 1 tháng 1 năm 1999, cho đến nay đã là 27 năm, ngày nào cũng như vậy. Nếu nhập từ khóa “học viên Pháp Luân Công khỏi bệnh” trên thanh tìm kiếm của Minh Huệ Net, có thể tìm được “73.989” kết quả, sau khi loại trừ các trường hợp trùng lặp v.v., số lượng còn lại vẫn rất cao. Đối với những người cao tuổi mà ĐCSTQ không muốn chăm sóc, không có hệ thống y tế chi trả cho các trường hợp bệnh nặng, không có lương hưu, nếu có một phương thức có thể giúp họ tìm được đường sống từ cõi chết, thì đó chẳng phải là chuyện quá tốt đẹp hay sao? Vì sao cứ phải bức hại họ?

Một mặt là tài chính công lâu nay vốn đã thiếu mất sự bảo đảm sinh tồn cơ bản cho các nhóm người yếu thế ở tầng đáy xã hội; mặt khác, lệnh cấm nghiêm ngặt đối với những phương thức cứu người hình thành tự phát trong dân gian, giúp giảm nhẹ hoàn cảnh sinh tồn khó khăn này. Hai yếu tố chồng chập này cuối cùng đã đẩy nhiều người dân ở tầng đáy xã hội đang trong cảnh tuyệt vọng, đặc biệt là nông dân Trung Quốc, xuống vực thẳm còn vô vọng hơn. Một quốc gia tự đục rỗng nền móng của chính mình, dù có được gọi là “thời kỳ hoàng kim”, thì đó cũng chỉ là một thời kỳ thịnh vượng của giới quyền quý cộng sản và những kẻ cơ hội, tuyệt đối không phải là thời kỳ thịnh vượng của nhân dân Trung Quốc (đặc biệt là mấy trăm triệu nông dân Trung Quốc).

Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2026/8/11/513216.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2026/9/9/235826.html