Khảo cứu nguồn gốc của “Tu luyện” (Phần 1)
Bài viết của Văn Dĩ Minh
[MINH HUỆ 22-09-2025] Trung Quốc xưa nay được gọi là vùng đất “Thần Châu”, đã diễn dịch văn hóa Thần truyền phong phú rực rỡ. Thế nhưng, Trung Quốc ngày nay, chùa chiền, Đạo quán, nhà thờ đã trở thành “công trình du lịch văn hóa”, dùng mọi mánh khóe để thu hút du khách. Có nơi khắp núi non dựng lên đủ các loại tượng Thần cổ quái, chụp ảnh với du khách, dùng các loại danh nghĩa để kiếm tiền, làm cho các núi sông danh tiếng trở nên ô yên chướng khí. Những nơi trước đây là nơi thanh tu, là cảnh ngoài trần thế, ngày nay đã biến thành “máy in tiền” và công cụ chính trị cho ĐCSTQ. Trên mạng và trong đời sống, càng ngày càng nhiều người chế nhạo và đùa giỡn với từ “Tu luyện”, trên thực tế chính là đang phỉ báng sự thiêng liêng của tu luyện.
Mặc dù ở Trung Quốc ngày nay, các tăng nhân, Đạo sĩ và chùa chiền Đạo quán đã trở thành đối tượng và địa điểm giao dịch, nhưng trước năm 1949, những ngôi chùa, Đạo quán với kiến trúc cổ hàng trăm hàng nghìn năm này, vẫn là một miền tịnh thổ để những người tu Phật, tu Đạo tu tâm hướng thiện, gột sạch tâm, trừ bỏ chấp trước. Hôm nay, chúng ta không nói về chủ đề lớn là nội hàm chân chính của tu luyện, mà từ góc độ văn hóa và lịch sử, thử xem sức nặng mà 2 chữ “Tu luyện” mang theo.
Tu luyện tìm cội nguồn
Trong “Trang Tử ngoại thiên – Tại hựu” có ghi chép câu chuyện tu luyện của Hoàng Đế – Thủy tổ nhân văn Trung Hoa, khoảng 5.000 năm trước.
Núi Không Động có một vị ẩn sĩ là Quảng Thành Tử. Sau khi nghe nói về ông, Hoàng Đế đã đến thăm ông và nói: “Xin hỏi, bí quyết của tu luyện đại Đạo tối cao là gì?” Quảng Thành Tử ban đầu không để ý đến Hoàng Đế. Ba tháng sau, Hoàng Đế lại lần nữa đến hỏi về Đạo hết mực thành kính. Quảng Thành Tử nói: “Tinh khí của Đạo chí cao ấy u viễn, tột đỉnh của Đạo chí cao mờ mờ, tịch mịch. Đừng nhìn gì cả, đừng nghe gì cả, giữ cho tinh thần thanh tĩnh. Hình thể tự nhiên sẽ chính, ắt sẽ tĩnh lặng, ắt sẽ thanh khiết. Đừng làm nhọc thể xác, đừng làm dao động tinh thần thì sẽ trường sinh”. Cảnh giới tối cao của Đại Đạo chí cao là trong tâm là hư không, không nhìn gì cả, không nghe gì cả. Ngưng thần tĩnh tu, thì thân thể sẽ tự nhiên đoan chính. Thân thể hoàn toàn trong sạch, tâm và tinh thần vô cùng thanh khiết, không làm mệt nhọc thân xác, không làm tinh thần phân tán, thì như thế có thể trường sinh.
Hoàng Để được Quảng Thành Tử khai thị, sau đó lại đi thăm các cao nhân tu luyện khác, thành kính và tinh tấn tu luyện, đã để lại phương pháp tu Đạo tốt. “Hoàng Đế nội kinh” chính là điển tịch mà người đời sau căn cứ vào những lời đối thoại giữa Hoàng Đế và Kỳ Bá về sự huyền diệu bí ẩn của thân thể người và vũ trụ, chỉnh lý mà thành.
Đến thời Đông Chu, lại xuất hiện một nhân vật then chốt nữa trong giới tu luyện. Lão Tử để lại “Đạo đức kinh” 5000 chữ, trong đó đa phần là luận thuật, ngày nay rất nhiều câu mà mọi nghe đã nghe quen thuộc như “Đạo khả đạo, phi thường Đạo” (Đạo mà có thể nói rõ ràng ra, thì đó không phải là Đạo thường hằng), “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên” (Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên). Đối với tu luyện, Lão Tử chỉ thẳng vào cốt lõi, “Tuyệt xảo khí lợi” (khôn khéo nhất là từ bỏ lợi ích), “Kiến tố bão phác, thiểu tư quả dục” (giữ bản tính thuần khiết chất phác, giảm tư tâm, ít ham muốn).
Thời kỳ này còn được gọi là “Thời đại Trục” của văn minh nhân loại. Thời kỳ từ năm 600 TCN đến 300 TCN, được triết gia người Đức Karl Jaspers gọi là “Thời đại Trục”. Ở phương Tây đã sinh ra Socrates, Plato, Aristotle. Ở phương Đông, Lão Tử, Phật Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử lần lượt đản sinh. Ba vị Thánh phương Đông ra đời cách nhau không quá 20 năm. Từ đó đặt định ra 3 điểm tựa của văn hóa tu luyện, hoàn toàn hình thành, Đạo gia Lão Tử, Phật gia Thích Ca Mâu Ni, Nho gia Khổng Tử, sau đó đã trở thành mạch chính của văn minh Trung Hoa hơn 2000 năm.
Đến thời đại Hán Vũ Đế triều Tây Hán, Nho giáo được xác lập là quốc giáo. Triều Đông Hán, Đạo giáo nổi lên. Thời kỳ Hán Minh Đế, Phật giáo truyền vào Trung Quốc. Tam giáo lúc thì cái này hưng thịnh, lúc thì cái kia hưng thịnh, các thời đại khác nhau được coi trọng khác nhau, đã liên lục diễn dịch, thực hành đầy đủ, đã khai sáng cho vô số chúng sinh trên vùng đất Trung Hoa, thể ngộ hàm nghĩa nội tại của văn hóa Thần truyền.
Cát Hồng chính nghĩa
Đến thời kỳ Ngụy Tấn, đã xuất hiện rất nhiều đại Đạo tu Chân, phong cách ẩn cư thịnh hành. Cát Hồng ra đời vào thời kỳ này, tự hiệu là Bão Phác Tử. Cát Hồng là một người tu luyện đắc Đạo, tinh thông y học, thuật luyện đan. Cát Hồng kế thừa đời trước, mở ra đời sau, đối với Đạo tu luyện, đã có những giải thích thiết thực, và đã viết các trước tác như Bão Phác Tử, Thần Tiên Truyện v.v.
Khi đó, có rất nhiều giả đạo, tà đạo lưu truyền ở thế gian, Cát Hồng đã chỉ ra có rất nhiều tự cho mình là cao minh, hoặc sử dụng tiểu năng tiểu thuật để lừa bịp người đời, gây hại không nhỏ. Trong Bão Phác Tử, Cát Hồng đã viết rằng “mượn tiểu thuật, ngồi qua đời, biến đổi hình dạng diện mạo… hoặc dẫn đến tàn phế hủy diệt người tốt, hoặc lừa dối bách tính, để kiếm tài lợi, tiền bạc lụa là chất cao như núi, giàu như vương công, phóng túng xa hoa dâm dật”, Có người giả mạo Thần Tiên, gây họa cho bách tính, tham tài háo lợi. Khiến cho những người có chí tu luyện bị mê hoặc.
Lúc đó, không có Cát Hồng, cũng sẽ có người người xuất hiện dẹp loạn quy chính, làm rõ sự thực. Cát Hồng nói: “Thần Tiên thực sự là có, Đạo tu Tiên là có thể học được”. Lần đầu tiên, Cát Hồng với thân phận là người tu luyện, đã chân thực nói ra cội nguồn lịch sử của Tu Luyện.
Có người nói, không thấy thì không tin. Đối với điều này, Cát Hồng cho rằng “Giữa trời đất, lớn vô biên, trong đó kỳ lạ đặc biệt, đâu có giới hạn”, “không thấy Tiên nhân, không thể nói là thế gian không có Thiên nhân”. Trời đất vũ trụ rộng lớn, điều con người biết là rất hữu hạn, không nhìn thấy Tiên nhân thì Tiên nhân không tồn tại sao?
Cát Hồng lấy ví dụ nói rằng, trong lịch sử có rất nhiều ghi chép về sự tồn tại của Thần Tiên. Trong Liệt Tiên Truyện, Lưu Hướng đã liệt kê ra hơn 70 vị Tiên nhân. Lưu Hướng học thức uyên thâm, sở học chính thống, những ghi chép của ông là đáng tin cậy. Còn nữa, rất nhiều chính sử cũng đã ghi chép các sự tích Thần Tiên, “Hậu Hán Thư cũng ghi chép, Ngụy Thượng ngồi rồi qua đời, Trương Khải có thể làm cho mây nổi lên. Đều là sử sách ghi chép, đáng tin mà lại có chứng cứ. Mà những sự kiện này đều là trong phần Thần Tiên của sách, có thể thấy đó không phải là viết bừa”.
Hậu Hán Thư là một trong 24 bộ sử, là chính sử của quốc gia. Trong 2 bộ sử đầu của 24 bộ sử là Sử Kỳ và Hán Thư, vẫn luôn tuân theo truyền thống “Khổng Tử không nói về quái lực loạn thần”, không ghi chép riêng về các việc tu luyện, chỉ là xuất hiện lẻ tẻ. Đến Hậu Hán Thư, bắt đầu có “Phương thuật liệt truyện”, tập trung thu thập ghi chép về nhóm phương sĩ, thầy thuốc, Thần Tiên, thuật sĩ. Từ đó về sau, các sử sách các thời đại đều có mục này.
24 bộ sử với tổng số chữ lên đến trên mấy chục triệu chữ, số lượng khổng lồ, nếu không phải là nhà nghiên cứu lịch sử, thì người bình thường sẽ không có thời gian đọc. Nếu xem qua thì cũng phát hiện ra rằng, lịch sử Trung Quốc cơ bản là quá trình tương tác giữa Người và Trời. Tư Mã Thiên nói, nguyên tắc cơ bản mà ông viết Sử Ký là “nghiên cứu mối quan hệ giữa Trời và Người, để thông hiểu lẽ biến đổi cổ kim”. Người ghi chép, thuật lại lịch sử, luôn là những văn nhân, không phải là người tu luyện đắc Đạo, nếu không thì sự kiện có người tu luyện đạt đến cảnh giới “Thiên – Nhân hợp nhất”, xuất hiện Thần tích, thì có thể sẽ được ghi chép lại càng nhiều hơn nữa, đúng không?
(Còn tiếp)
Bản quyền © 1999-2025 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.
Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2025/9/22/499704.html
Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2025/11/7/231219.html


