Bài viết của Lý Nghi, Minh Nguyệt

[MINH HUỆ 01-09-2026] Trong dòng sông dài lịch sử, đã lưu lại cho con người biết bao gió mưa và sóng gió. Chúng ta tham chiếu lịch sử, hiểu những sự tích của người xưa, chính là để kế thừa cốt lõi tinh thần của văn hóa truyền thống, từ đó không bỏ phí cuộc đời, không mê lạc phương hướng trong xã hội hiện đại. Hôm nay, xin chia sẻ với mọi người câu chuyện danh y triều Thanh là Diệp Thiên Sĩ, để cùng suy ngẫm.

Ba câu chuyện nhỏ của Diệp Thiên Sĩ

Diệp Thiên Sĩ vốn tên là Diệp Quế, tự Thiên Sĩ, hiệu Hương Nham, là người huyện Ngô, Giang Tô, tức Tô Châu ngày nay, sinh năm 1667, mất năm 1747. Ông xuất thân trong gia đình nhiều đời làm nghề y. Ông nội ông là Diệp Thời Hòa, cha ông là Diệp Triêu Thái, đều tinh thông y đạo. Theo ghi chép ở sách “Diệp Hương Nham truyện”, khi còn nhỏ, Diệp Thiên Sĩ ban ngày học y học, buổi tối theo cha học y thuật. Năm ông 14 tuổi, cha ông qua đời, ông theo học trò của cha là người họ Chu để chuyên tâm học y học.

Diệp Thiên Sĩ tuy thông minh hơn người, nghe lời nói là có thể chẩn đoán ra bệnh, nhưng ông vẫn rất khiêm tốn học hỏi người hiền tài. Luôn khiêm tốn học hỏi những sở trường của người khác. Hễ gặp thầy thuốc cao minh hơn ông thì ông đều nguyện ý bái họ làm thầy. Nếu nghe được có thầy thuốc nào có sở trường gì, thì ông liền vui vẻ tìm đến, học thành thạo rồi mới trở về. Từ năm 12 tuổi đến 18 tuổi, ông đã theo học 17 vị thầy. Những năm Ung Chính và Càn Long triều Thanh, ông đã trở thành danh y nổi tiếng y thuật cao siêu, được thế nhân tôn xưng là Thiên Y Tinh – ngôi sao trên bầu trời y học.

Những câu chuyện và truyền thuyết về Diệp Thiên Sĩ được lưu truyền trong dân gian rất nhiều. Dưới đây là 3 câu chuyện về ông do nhà văn đời Thanh là Lương Chương Cự ghi chép lại.

1. Từ cái nhỏ thấy bệnh lớn, khuyến thiện hợp thời

Một ngày, Diệp Thiên Sĩ đi bộ về nhà, bỗng nhiên trời đổ mưa lớn, khiến con đường bị nước xối hỏng. Một người dân làng quen biết với Diệp Thiên Sĩ đã cõng ông lội qua chỗ nước ngập. Diệp Thiên Sĩ nói với người làng đó rằng: “Ngày này sang năm ông sẽ bị bệnh qua đời. Hiện giờ ông hãy mau chữa trị gấp, thì ông còn có thể sống được”. Nhưng người làng này lại không tin lời của Diệp Thiên Sĩ.

Đến ngày mà Diệp Thiên Sĩ nói đến, trên đầu người dân làng này mọc cái nhọt độc. Ông ta được khiêng đến nhà Diệp Thiên Sĩ cầu xin cứu chữa. Diệp Thiên Sĩ cho người này một món tiền rồi sai đưa ông ấy ra về, và nói: “Không sống qua được giờ Dậu ngày mai”. Sau đó, quả nhiên đúng là như vậy.

2. Tùy thời điều chỉnh, khéo dùng cái có sẵn đúng lúc

Hàng xóm có một phụ nữ khó sinh, mấy ngày mấy đêm vẫn chưa sinh được. Thầy thuốc khác đã kê đơn thuốc rồi. Chồng sản phụ đem đơn thuốc đến hỏi Diệp Thiên Sĩ. Diệp Thiên Sĩ thêm vào đơn thuốc một cái lá ngô đồng làm thuốc dẫn. Sản phụ sau khi uống thuốc, đã rất nhanh chóng sinh ra em bé.

Sau này có người bắt chước Diệp Thiên Sĩ, dùng lá ngô đồng làm thuốc dẫn cho thêm vào đơn thuốc trợ sản. Diệp Thiên Sĩ cười và nói: “Khi đó tôi dùng lá ngô đồng là vì khi đó vừa đúng tiết Lập Thu, qua ngày đó thì thêm vào có tác dụng gì đâu?”

3. Áp lực tình thân, giữ được tỉnh táo

Diệp Thiên Sĩ có cháu ngoại mới một tuổi bị bệnh đậu mùa, nhưng không phát được ra ngoài. Con gái ông bế con về nhà ngoại nhờ ông chữa trị. Diệp Thiên Sĩ cảm thấy rất khó chữa, con gái ông tức giận cứ dập đầu vào tường và nói với ông rằng: “Cha bình thường nói là bệnh đậu mùa không phải là chứng bệnh chết người. Hôm nay, chỉ duy nhất cháu ngoại là ông không cứu sống được nghĩa là sao? Thế thì con sẽ chết trước mặt đứa trẻ!” Nói rồi, cô cầm lấy cái kéo muốn tự sát. Diệp Thiên Sĩ cúi đầu nghĩ rất lâu, cuối cùng cởi hết quần áo cháu ngoại ra, và khóa trong một căn phòng trống, rồi tự mình ra ngoài bỏ đi.

Con gái ông muốn xem đứa trẻ thế nào, nhưng không mở cửa được, nên đã sai mấy người đi giục cha trở về nhà. Diệp Thiên Sĩ không để ý đến con gái. Con gái ông đã khóc thừa sống thiếu chết.

Đến đêm khuya, Diệp Thiên Sĩ mới trở về. Ông mở cửa ra xem, thấy đứa trẻ toàn thân đã nổi mụn đậu, từng hạt lớn bằng hạt ngọc trai. Thì ra trong căn phòng trống này có rất nhiều muỗi, Diệp Thiên Sĩ đã nhờ muỗi đốt đứa trẻ để các mụn đậu mùa phát ra ngoài. Phật gia nhìn nhận rằng, nguyên lý ở đó chính là để nghiệp lực trong thân thể bệnh nhân phát tán ra bên ngoài, trong quá trình này phải chịu khổ chịu tội, thì nghiệp lực trong cơ thể người mới được tiêu giảm.

Theo ghi chép trong sách “Hương Nham truyện” của Thẩm Đức Tiềm, Diệp Thiên Sĩ trước khi chết đã khuyên răn con cháu rằng: “Nghề y có thể làm mà cũng không thể làm. Nếu làm nghề y thì ắt phải là người có thiên tư thông minh, ngộ tính tốt, đọc vạn cuốn sách y học, sau đó mới có thể mượn y thuật để giúp đời. Nếu không có được kiến thức và nền tảng vững chắc như thế mà đi chữa bệnh, thì hiếm có người hành nghề y nào mà không sát nhân, vì thuốc và liều lượng không thích đáng, thì chính là lưỡi dao sắc bén đoạt sinh mệnh đó”.

Gợi mở của nhân vật lịch sử đối với người hiện đại

1. Khiêm tốn học tập và tâm thái rộng mở

Diệp Thiên Sĩ vốn là con em gia đình nhiều đời làm nghề y, lại có thiên chất thông minh dĩnh ngộ, nhưng từ năm 12 tuổi đến 18 tuổi, ông đã bái sư học 17 vị thầy. Hơn nữa ông đều theo mỗi vị thầy, học thành thạo xong rồi mới xin học với vị thầy tiếp theo. Bất kể là vị thầy ấy có danh tiếng lớn hay nhỏ, chỉ cần vị ấy có sở trường là ông liền khiêm tốn học. Điều này trái ngược rõ ràng với sự kiêu ngạo tự mãn và quan niệm môn hộ thường thấy của người hiện đại. Đó cũng là thực hành câu nói nổi tiếng của kinh điển Nho gia “Ba người đồng hành ắt có người là thầy của ta”.

Câu chuyện của ông đã gợi mở cho những người hiện đại chúng ta, trong xã hội hiện đại thay đổi nhanh chóng, khả năng không ngừng học tập tinh tấn, và tấm lòng rộng lớn bao dung, vẫn là con đường không ngừng đột phá giới hạn cá nhân.

2. Thiết thực và kính úy tự nhiên

Diệp Thiên Sĩ nhân lúc tiết Lập Thu, cho một lá ngô đồng vào trong phương thuốc để chữa trị việc khó sinh đẻ, còn người khác thì lại mù quáng bắt chước, chỉ thấy là như thế, mà không suy nghĩ tại sao lại như thế, không muốn tìm hiểu sâu thêm. Điều này đã nói rõ một cách sinh động về hai bài học của người xưa là: “Nhân địa chế nghi” – Tùy thực địa mà có biện pháp thích hợp; “Nhân thời chế nghi” – Tùy thời gian mà có biện pháp thích hợp.

“Nhân địa chế nghi” – Tùy thực địa mà có biện pháp thích hợp, có xuất xứ sớm nhất là từ sách “Ngô Việt xuân thu” thời nhà Hán, ý nghĩa là căn cứ vào tình hình cụ thể ở các khu vực khác nhau, mà lựa chọn các biện pháp thích hợp, hoặc chế định những chính sách phù hợp.

“Nhân thời chế nghi” – Tùy thời gian mà có biện pháp thích hợp, tư tưởng này có thể truy ngược về thời kỳ Tiên Tần. Tư tưởng biến đổi của Chu Dịch chính là nền tảng triết học quan trọng của nó, nhấn mạnh “cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” – Khi một hoàn cảnh, sự việc hoặc tư duy đã đi đến đường cùng, bế tắc hoặc giới hạn tối đa, thì buộc phải thay đổi, khi đã thực hiện sự thay đổi, thì cục diện bế tắc sẽ được tháo gỡ, hanh thông, khi đã hanh thông, trôi chảy thì sẽ phát triển ổn định, trường tồn.

Người hiện đại ở nơi công tác hoặc trong nhịp điệu nhanh của cuộc sống, phụ thuộc vào máy tính, dần dần từ bỏ suy nghĩ, đến mức đã mất khả năng suy nghĩ độc lập, và mất nguyện vọng tĩnh tâm xuống để quan sát và học tập quy luật tự nhiên của trời đất. Kết quả là bị rơi vào khuôn mẫu dập khuôn, copy, và giáo điều máy móc.

3. Sự cân bằng giữa sự lý tính và giới hạn tâm trạng

Trong những câu chuyện hành nghề y của Diệp Thiên Sĩ, con gái ông vì yêu thương con mà tâm trạng mất kiểm soát, thậm chí dùng cái chết để gây sức ép cho ông. Diệp Thiên Sĩ trong lòng khó tránh khỏi cảm thấy khốn đốn, nhưng vẫn trụ vững dưới áp lực tình cảm gia đình to lớn, cuối cùng đã đưa bệnh nhân nhỏ tuổi từ cõi chết trở về.

Trong cuộc sống hiện đại nhịp sống nhanh, áp lực cao, chúng ta thường phải đối diện với sự lo lắng đối với tình thân tình bạn, và những cơn bão táp tâm trạng. Làm thế nào để đồng thời tôn trọng tình cảm, lại có thể ra quyết sách lý trí, tránh những phán đoán sai lầm do bị tâm trạng ảnh hưởng, và tránh được đánh mất giới hạn đạo đức, điều này yêu cầu mỗi người chúng ta phải có sự tu dưỡng tâm tính cao và siêu thoát thế tục.

4. Kính úy và nhìn thấu quan hệ Thiên – Địa – Nhân

Trong câu chuyện, Diệp Thiên Sĩ đã tiên tri chính xác về sinh tử của một người làng, điều này đã thể hiện y lý cao siêu “thấy dấu hiệu nhỏ biết được bệnh lớn”, và khả năng quan sát sâu sắc đối với quy luật tự nhiên của Đông y truyền thống. So sánh với hiện nay, người hiện đại thường dựa vào các thiết bị tinh vi, thường quá ỷ lại thiết bị tinh vi, lý luận y học hiện đại hoặc các tuyên truyền quảng cáo, nhưng đối với thân thế và tâm linh bản thân và thiên nhiên, thì lại thiếu đi sâu vào tìm hiểu, và dần dần mất đi khả năng tìm hiểu về tinh thần.

Câu chuyện của Diệp Thiên Sĩ đã gợi mở chúng ta, cần có cái tâm kính úy đối với quy luật thiên nhiên và sinh mệnh, cần chú trọng đề phòng ngăn ngừa từ những dấu hiệu nhỏ, chứ không phải để đến khi bệnh nguy cấp rồi mới tuyệt vọng chạy chữa. Điều này không chỉ là đối với sức khỏe và bệnh tật, mà đối diện với những mâu thuẫn và những vấn đề quan trọng khác trong cuộc đời, cũng cần phải như thế.

Lời kết

Sự bác đại tinh thâm của văn hóa truyền thống Trung Hoa, có thể khiến con người có được trí huệ, lý tính, và giữ được thiện lương, khiến con người tránh khỏi việc bị vây khốn bởi sự bùng nổ thông tin khắp nơi, và không bị giới hạn bởi những tri thức phiến diện thiếu sự nghiêm cẩn và căn cứ, và càng không bị những cuộc cạnh tranh và khát vọng nhất thời làm cho mê loạn đầu óc, từ đó có được cuộc đời mạnh khỏe và thiện lương.

Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2026/9/1/513780.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2026/9/10/235840.html