Bài viết của Ban Biên tập cửu bình

[MINH HUỆ 19-04-2020] [Chú thích của Ban Biên tập Minh Huệ] Đây là loạt bài tái bản bản dịch của cuốn sách “Ma quỷ đang thống trị thế giới của chúng ta” do Ban Biên tập cửu bình biên soạn. Bản dịch được dịch từ tiếng Trung, có tham khảo tiếng Anh.

Mục lục của cuốn sách

Lời nói đầu
Tự luận: Ma quỷ đang thống trị thế giới chúng ta
Chương 1. 36 kế ma quỷ hủy diệt nhân loại
Chương 2. Khởi phát ở châu Âu
Chương 3. Thảm sát ở phương Đông
Chương 4. Xuất khẩu cách mạng
Chương 5. Thâm nhập vào phương Tây
Chương 6. Tín ngưỡng: Ma quỷ dẫn dắt con người phản đối, bài xích Thần
Chương 7. Gia đình: Ma quỷ đang hủy hoại gia đình của chúng ta
Chương 8. Chính trị: Ma quỷ đang họa loạn các quốc gia của chúng ta
Chương 9. Kinh tế: Mồi nhử của ma quỷ
Chương 10. Pháp luật: Dùng luật pháp để phục vụ ma quỷ
Chương 11. Nghệ thuật: Làm suy đồi nghệ thuật
Chương 12. Giáo dục: Phá hoại giáo dục
Chương 13. Truyền thông: Thao túng truyền thông
Chương 14. Văn hóa phổ biến: Hưởng lạc, phóng túng dục vọng
Chương 15. Khủng bố: Chủ nghĩa cộng sản là nguồn gốc của Chủ nghĩa khủng bố
Chương 16. Bảo vệ môi trường: Bàn tay của chủ nghĩa cộng sản đằng sau lý luận bảo vệ môi trường
Chương 17. Toàn cầu hóa: Mục đích căn bản của chủ nghĩa cộng sản
Chương 18. Dã tâm bá chủ toàn cầu của ĐCSTQ dưới sự an bài của ma quỷ
Kết luận

Mục lục

Lời nói đầu

1. Nguồn gốc cộng sản của chủ nghĩa bảo vệ môi trường
1.1 Ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa bảo vệ môi trường
1.2 Chủ nghĩa bảo vệ môi trường và chủ nghĩa Marx có chung nguồn gốc
1.3 Chủ nghĩa Marx sinh thái
1.4 Chủ nghĩa xã hội sinh thái
1.5 Chính trị xanh: Xanh chẳng qua là đỏ mới
1.6 Chủ nghĩa khủng bố sinh thái
1.7 Greenpeace: Không phải là câu chuyện về hòa bình

2. Tính hoang đường của sự đồng thuận về biến đổi khí hậu
2.1 Tóm lược quá trình đạt được sự “đồng thuận” về khoa học khí hậu
2.2 Quá trình xác lập giáo điều trong giới khoa học
2.3 Các nhà khoa học không thừa nhận sự “đồng thuận”
2.4 Vì sao các nhà khoa học chủ nghĩa bảo vệ môi trường đẩy mạnh tuyên truyền về thảm họa

3. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường: Một hình thái khác của chủ nghĩa cộng sản
3.1 Thâm nhập chính trị: Xây dựng một chính phủ toàn cầu
3.2 Đổ tội cho chủ nghĩa tư bản
3.3 Truyền thông áp chế những tiếng nói bất đồng
3.4 Thao túng các nhóm “dân sự” để phát động cách mạng đường phố
3.5 Một tôn giáo mới của chủ nghĩa phản nhân loại

Lời kết: Kính Thần, khôi phục truyền thống là con đường thoát khỏi khủng hoảng môi trường

Tài liệu tham khảo

Lời nói đầu

Trái đất là môi trường sống của nhân loại, cung cấp cho nhân loại thức ăn, các loại tài nguyên, và điều kiện phát triển, cho phép con người sinh tồn và phát triển hàng nghìn năm qua.

Con người có mối quan hệ vận động mật thiết với môi trường tự nhiên. Văn hóa truyền thống Trung Hoa cũng như phương Tây đều chú trọng mối quan hệ cộng sinh tốt đẹp giữa con người và tự nhiên. Đổng Trọng Thư, một triết gia Trung Hoa cổ đại, có câu “Vạn vật trong trời đất đều là để nuôi dưỡng con người”, [1] tức là Trời tạo ra vạn vật là để tạo điều kiện sinh sống cho con người, con người có thể sử dụng vạn vật. Đồng thời, trong sinh hoạt, con người cần phải tuân theo đạo lý của trời đất, sử dụng có điều độ, chủ động duy trì và bảo vệ môi trường sinh sống tự nhiên của con người.

Văn hóa truyền thống phương Tây cho rằng môi trường tự nhiên là ân điển do Sáng Thế Chủ ban cho con người và giao cho con người quản lý, bởi vậy, con người phải trân quý và sử dụng khéo léo. Văn hóa truyền thống Trung Hoa giảng rằng vạn sự vạn vật phát triển cân bằng, không xung đột với nhau. Sách “Trung Dung” của Khổng Tử viết: “Vạn vật tịnh dục nhi bất tương hại, đạo tịnh hành bất tương bội” (tạm dịch: vạn vật sinh trưởng không xung đột, đồng hành phát triển không mâu thuẫn). [2]

Người xưa Trung Quốc đã sớm chú ý đến việc bảo vệ môi trường. Căn cứ vào các ghi chép lịch sử, thời Đại Vũ “ba tháng mùa Xuân, không vào rừng chặt cây, để cây cỏ sinh trưởng, ba tháng mùa hè, không thả lưới bắt cá, để cho cá sinh trưởng”. [3]

Tăng tử nói: “Thụ mộc dĩ thời phạt yên, cầm thú dĩ thời sát yên” (tạm dịch: Cây rừng nên tùy thời mà chặt, chim muông thú nên tùy thời mà bắt). [4] Những điều này đã biểu hiện tư tưởng sử dụng có chừng mực, trân quý và bảo vệ môi trường sinh thái.

Sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, tình trạng ô nhiễm đã phá hoại nghiêm trọng sinh thái tự nhiên, xã hội phương Tây cũng bắt đầu nhận thức ra vấn đề này. Sau khi có luật và các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, tình trạng ô nhiễm công nghiệp mới được xử lý hiệu quả, môi trường được cải thiện lớn. Trong quá trình này, ý thức bảo vệ môi trường của công chúng được nâng cao, và nỗ lực bảo vệ môi trường tự nhiên đã được thừa nhận là mục tiêu xác đáng.

Ở đây cần phân biệt rõ một số khái niệm: bảo vệ môi trường, vận động bảo vệ môi trường, và chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường, đúng như nghĩa đen của nó, là bảo vệ cho môi trường. Từ khi có văn minh nhân loại, con người đã hiểu cần phải bảo vệ môi trường; nó không có bất kỳ quan hệ với hình thái ý thức chính trị nào cả.

Vận động bảo vệ môi trường là hoạt động chính trị xã hội nhắm vào các vấn đề về môi trường. Mục tiêu chính của nó là thông qua các cuộc vận động quần chúng trên diện rộng, kích động chính trị, và dưới ảnh hưởng của truyền thông để thay đổi chính sách, thay đổi tâm lý và hành vi, tập quán của quần chúng đối với môi trường. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường là một loại hình thái ý thức chính trị và tư tưởng triết học nhấn mạnh vào việc bảo vệ môi trường và sự chung sống hài hòa giữa xã hội nhân loại và hệ sinh thái tự nhiên. Động cơ đằng sau việc bảo vệ môi trường và chủ nghĩa bảo vệ môi trường không giống với chủ nghĩa cộng sản, nhưng chủ nghĩa cộng sản vốn giỏi lợi dụng và thao túng các cuộc vận động quần chúng để đạt được mục đích của nó. Vì thế, ban đầu, khi chủ nghĩa bảo vệ môi trường hiện đại xuất hiện, chủ nghĩa cộng sản đã tính toán một cách có hệ thống để lợi dụng phong trào này.

Những vấn đề xung quanh chủ nghĩa bảo vệ môi trường ngày nay cực kỳ phức tạp. Cuộc vận động này đã lợi dụng những mỹ từ động đến cảm xúc của con người, lợi dụng những nguyện vọng tốt đẹp muốn bảo vệ môi trường để tạo ra một cuộc vận động chính trị toàn cầu. Nhiều người tham gia không chỉ là người có thiện chí, có tinh thần chính nghĩa, mà còn thực sự quan tâm đến tiền đồ vận mệnh của nhân loại.

Tuy nhiên, nhiều người không nhận ra những người cộng sản đã lợi dụng chủ nghĩa bảo vệ môi trường, lấy danh nghĩa đạo đức cao cả của việc bảo vệ môi trường mà thúc đẩy âm mưu của họ. Đây là chỗ mà bảo vệ môi trường bị chính trị hóa cao độ, bị biến thành cực đoan, thậm chí bị biến thành một thứ ngụy tôn giáo mà không có nền tảng đạo đức truyền thống. Những tuyên truyền lệch lạc và các thủ đoạn chính trị mang tính cưỡng chế đã chiếm thế chủ đạo, biến chủ nghĩa bảo vệ môi trường thành một dạng chủ nghĩa cộng sản.

Chương này sẽ tập trung phân tích sâu về chủ nghĩa bảo vệ môi trường có quan hệ thế nào với chủ nghĩa cộng sản về mặt hình thái ý thức, và cuộc vận động của chủ nghĩa bảo vệ môi trường bị thâu tóm, thao túng và lợi dụng như thế nào để phục vụ mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản, cũng như tác động mà nó mang lại nếu không bị kìm hãm.

1. Nguồn gốc cộng sản của chủ nghĩa bảo vệ môi trường

Vì mục tiêu cuối cùng là hủy diệt nhân loại, chủ nghĩa cộng sản đã chuẩn bị kỹ lưỡng về rất nhiều phương diện. Chủ nghĩa cộng sản khởi phát từ Châu Âu, rồi lại phát động cách mạng bạo lực để giành chính quyền tại hai cường quốc ở phương Đông – là Nga và Trung Quốc, tiếp đến là sự đối đầu trong thời gian dài của khối cộng sản và xã hội phương Tây trong Chiến tranh Lạnh. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu, phe cộng sản lại gieo cấy các nhân tố của nó vào cả xã hội phương Đông lẫn phương Tây, mưu đồ kiến lập một chính phủ toàn cầu được kiểm soát và khống chế nghiêm ngặt.

Để đạt mục tiêu này, chủ nghĩa cộng sản phải tạo ra hoặc lợi dụng một “kẻ địch” đủ để uy hiếp toàn nhân loại và đe dọa công chúng trên thế giới từ bỏ quyền tự do cá nhân và chủ quyền quốc gia. Dấy lên nỗi hoang mang về thảm họa sinh thái và môi trường mang tính toàn cầu có thể nói là lựa chọn tất yếu của nó để đạt được mục tiêu này.

1.1 Ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa bảo vệ môi trường

Sự hình thành và phát triển của phong trào bảo vệ môi trường có liên quan mật thiết với chủ nghĩa cộng sản. Cụ thể, sự phát triển của nó đã trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là thời kỳ ấp ủ lý luận, có thể tính từ khi Karl Marx và Friedrich Engels công bố “Tuyên ngôn Cộng sản” (Communist Manifesto) vào năm 1848 cho đến Ngày Trái đất đầu tiên vào năm 1970.

Tại thời điểm bắt đầu của giai đoạn này, Marx và các môn đồ của ông ta không coi chủ nghĩa bảo vệ môi trường là trọng điểm lý luận của mình, nhưng bản thân quan điểm của chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa duy vật của Marx lại rất phù hợp với khuynh hướng chính của chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Marx tuyên bố chủ nghĩa tư bản là đối nghịch với tự nhiên (tức môi trường). Các môn đồ của Marx đã tạo ra cụm từ “hệ sinh thái” (ecosystem) và âm thầm đưa chủ nghĩa bảo vệ môi trường vào một số môn học để ươm cho nó nảy nở. Trong 10 năm cuối của giai đoạn này, từ năm 1960 đến 1970, hai cuốn sách bán chạy nhất là “Mùa xuân tĩnh lặng” (Silent Spring, 1962) và “Bùng nổ dân số” (Population Bomb, 1968) đã xuất hiện ở Mỹ. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường đã bước lên vũ đài của công chúng dưới cái lốt “bảo vệ môi trường” như thế.

Cột mốc mở đầu giai đoạn thứ hai là Ngày Trái đất đầu tiên được tổ chức vào năm 1970, không lâu sau đó, vào năm 1972, Liên Hợp Quốc lại tổ chức Hội nghị Môi trường của Con người (U.N. Conference on the Human Environment) ở Stockholm. Các tổ chức khác nhanh chóng được thành lập trong giai đoạn này, các hoạt động cũng tăng lên. Ở Mỹ và Châu Âu, họ gây sức ép với chính phủ bằng tuyên truyền, biểu tình, và vận động dưới cái lốt nghiên cứu khoa học, xây dựng quy định pháp luật, hội nghị v.v..

Ở tầng vĩ mô, phong trào phản văn hóa những năm 1960 có thể nói là cuộc diễu binh của các nhân tố cộng sản ở phương Tây. Những phong trào này lấy danh nghĩa phong trào dân quyền, phong trào hòa bình phản chiến để leo lên vũ đài xã hội và chính trị, rồi lại nhanh chóng tràn sang các hình thức chiến đấu chống chủ nghĩa tư bản như phong trào nữ quyền và phong trào đồng tính luyến ái, v.v..

Sau những năm 1970, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam thoái trào, tư tưởng cộng sản bắt đầu quá trình tiến vào trong thể chế, gọi là “cuộc trường chinh xuyên thể chế” (long march through the institutions), đồng thời tràn sang chủ nghĩa nữ quyền và chủ nghĩa bảo vệ môi trường — Đây là nguyên nhân gốc rễ thúc đẩy mạnh mẽ hình thái ý thức của chủ nghĩa bảo vệ môi trường.

Một trong những lực lượng quan trọng nhất đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa bảo vệ môi trường trong những năm 1970 là những người hippie, những người đóng vai trò chủ lực trong phong trào phản văn hóa. Trên thực tế, chủ nghĩa cộng sản đang trong quá trình chuẩn bị, dùng ngọn cờ chủ nghĩa bảo vệ môi trường làm vỏ bọc cho bản thân sau khi thất thế trong Chiến tranh Lạnh, với ý đồ dấy lên một cao trào chủ nghĩa cộng sản toàn cầu dưới bất kỳ danh nghĩa nào khác.

Giai đoạn thứ ba bắt đầu trước thềm kết thúc Chiến tranh Lạnh. Năm 1988, Liên Hợp Quốc thành lập Hội đồng Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change, gọi tắt là IPCC), khái niệm “nóng lên toàn cầu” bắt đầu xuất hiện trong lĩnh vực chính trị. [5] Năm 1990, khi Liên Xô sắp sụp đổ, một hội nghị môi trường quốc tế đã được tổ chức tại Moscow. Trong một bài phát biểu, tổng bí thư Đảng Cộng sản Nga Mikhail Gorbachev đã đề xuất thiết lập một hệ thống giám sát môi trường quốc tế, ký một hiệp ước để bảo vệ các “đặc khu môi trường” (unique environmental zones), thể hiện sự ủng hộ các chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc, và kêu gọi tổ chức hội nghị tiếp theo (hội nghị này đã diễn ra tại Brazil vào tháng 6 năm 1992). [6]

Hầu hết các nhà bảo vệ môi trường phương Tây đều chấp nhận những đề nghị này, và tại giai đoạn này, đã coi nóng lên toàn cầu là mối đe dọa lớn đối với nhân loại. Những tuyên truyền lấy bảo vệ môi trường làm cái cớ để ra những chính sách nặng tay đột nhiên xuất hiện ồ ạt, luật và các quy định về môi trường tăng vọt cả về số lượng lẫn phạm vi áp dụng. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường nổi lên như một lực lượng trên vũ đài quốc tế, bắt đầu mang màu sắc cộng sản ngày một rõ nét.

1.2 Chủ nghĩa bảo vệ môi trường và chủ nghĩa Marx có chung nguồn gốc

Những người theo tôn giáo chính thống ở cả Đông phương lẫn Tây phương đều nhìn nhận rằng con người là do Thần phỏng theo hình tượng của Thần mà tạo ra, sinh mệnh của con người cũng vì thế mà có giá trị và sự tôn nghiêm cao hơn các sinh mệnh khác trên địa cầu. Tương tự, môi trường tự nhiên cũng là do Thần sáng tạo ra. Con người có nghĩa vụ bảo vệ thiên nhiên, vốn tồn tại để phục vụ con người, chứ không phải là ngược lại.

Nhưng trong mắt của những người vô thần và người duy vật, sinh mệnh của con người tuyệt không có gì đặc biệt. Engels viết trong một bài tiểu luận rằng “Sự sống là hình thức tồn tại của các thể albumin [tức là protein].” [7] Nếu như vậy, sự sống của con người chẳng qua chỉ là một loại hình thức tồn tại của một tập hợp các loại protein, không có bất cứ sự khác biệt nào với động vật và thực vật. Vì thế mà việc con người có thể bị tước đoạt tự do, thậm chí cả sinh mệnh trở nên có logic dưới danh nghĩa bảo vệ tự nhiên.

Năm 1862, Justus von Liebig, nhà hóa học người Đức, cũng là đồng sự của Marx, trong một cuốn sách về hóa học hữu cơ, đã công kích việc nông dân Anh dùng phân chim làm phân bón. Nông nghiệp Anh vốn được hưởng lợi từ phân chim, một loại phân bón hiệu quả cao, làm tăng mạnh sản lượng canh tác. Đến giữa thế kỷ 19, thực phẩm của người Anh đã rất dồi dào, có chất lượng rất cao. Việc buôn bán phân chim làm lợi cho thương nhân các nước, nông dân Anh, cũng như người dân Anh.

Vậy tại sao Liebig muốn lên án thói quen sử dụng phân chim này? Ông ta nói rằng, thứ nhất, quá trình thu gom phân chim sẽ phá hoại môi trường tự nhiên; thứ hai, thương nhân bóc lột công nhân với mức lương thấp; thứ ba, sản lượng lương thực cao sẽ kích thích tăng trưởng dân số, đổi lại, lại dẫn đến cần nhiều lương thực hơn, vượt quá khả năng cung cấp lương thực của tự nhiên; thứ tư, người và gia súc càng nhiều thì phân và rác thải cũng càng nhiều lên. [8]

Bấy giờ, khi đang viết “Tư bản luận” (Das Kapital), Marx đã nghiền ngẫm rất kỹ tác phẩm của Liebig. Ông ta tán thưởng Liebig đã “từ góc độ khoa học tự nhiên mà đưa ra mặt trái, tức là tính phá hoại của nông nghiệp hiện đại” [9] Cũng như Liebig, Marx coi bất kỳ nỗ lực nào để tạo ra của cải bằng cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên đều là cái vòng luẩn quẩn. Ông ta kết luận rằng “một nền nông nghiệp có lý trí không tương hợp với chế độ tư bản chủ nghĩa.” [10]

Sau khi Lenin và Đảng Bolshevik của ông ta phát động chính biến ở Nga, họ đã nhanh chóng ban bố “Pháp lệnh ruộng đất”, “pháp lệnh rừng” để quốc hữu hóa các loại tài nguyên ruộng đất, rừng, nước, khoáng sản, động thực vật, không cho phép nhân dân được tự ý khai thác sử dụng. [11]

Nhà khí tượng kiêm nhà văn người Mỹ Brian Sussman đã viết trong cuốn sách “Nền bạo chính sinh thái: Cánh tả mưu đồ dùng danh nghĩa bảo vệ môi trường để giải thể nước Mỹ như thế nào” (Eco-Tyranny: How the Left’s Green Agenda Will Dismantle America ) rằng tư tưởng của Marx và Lenin rất tương đồng với những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường ngày nay. Theo quan điểm của họ, không ai có quyền thu lợi từ tài nguyên thiên nhiên. “Dù là bảo tồn rừng, cá voi, ốc sên hay khí hậu, đều phải quy về một niềm tin đã bén rễ rằng thứ lợi nhuận ấy là phi đạo đức, cuối cùng sẽ phá hủy cả hành tinh nếu không dừng lại”, Sussman viết. [12]

Cuộc vận động bảo vệ môi trường mang tính toàn cầu này đã lôi kéo rất nhiều nhà tư tưởng, chính trị gia, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, giới truyền thông tham gia. Không thể liệt kê hết những tư tưởng, phát ngôn, và hành động của họ tại đây, nhưng có một nhân vật không thể không bỏ qua: Maurice Strong, người sáng lập Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (United Nations Environment Programme, UNEP). Strong, một người Canada, cũng là người tổ chức Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường của Con người năm 1972 và Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992. Cô của Strong là Anna Louise Strong, một nhà báo mà nhiều người đã biết là thân cộng sản, đã định cư ở Trung Quốc. Strong chịu ảnh hưởng sâu sắc của cô mình, tự xưng là “một nhà xã hội chủ nghĩa về mặt tư tưởng và nhà tư bản chủ nghĩa về phương pháp luận”. [13]

Strong nắm giữ vị trí quan trọng trong phong trào bảo vệ môi trường toàn cầu. “Ông ta cũng có quan điểm cấp tiến như những người biểu tình đường phố của chủ nghĩa bảo vệ môi trường cấp tiến nhất, nhưng ông ta không khản giọng hô hào trước hàng rào cảnh sát bảo vệ hội nghị toàn cầu, mà nắm chức tổng thư ký, cầm trong tay chiếc búa chủ trì hội nghị ở bên trong.” [14]

Những quan điểm mà cơ quan Liên Hợp Quốc tán thành dưới sự lãnh đạo của Strong gần như giống hệt quan điểm của chủ nghĩa Marx. Sussman viết: “Quyền tư hữu đất đai là công cụ chủ yếu để tích lũy của cải nên sẽ gây ra bất công xã hội. Vì thế, tất yếu phải công hữu quyền sử dụng đất đai.” [15] Sau khi nghỉ hưu, Strong đã chọn sang Bắc Kinh hưởng tuổi già, và đã qua đời ở đó vào năm 2015.

Natalie Grant Wraga, một cố chuyên gia về Liên Xô, đã tiến hành một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này đã viết: “Bảo vệ môi trường có thể được dùng làm cái cớ để áp hàng loạt biện pháp đặt ra nhằm phá hoại cơ sở công nghiệp của các quốc gia phát triển. Nó có thể phục vụ mục đích phá hoại bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn sống của các quốc gia này và cấy vào đó giá trị quan của chủ nghĩa cộng sản.” [16] Trên thực tế, chủ nghĩa bảo vệ môi trường không chỉ bắt nguồn từ khối cộng sản cũ. Nó còn đi sâu hơn và có quan hệ với mục tiêu tổng thể của chủ nghĩa cộng sản nhằm tước đoạt tự do trên khắp thế giới.

1.3 Chủ nghĩa Marx sinh thái

Trong giai đoan chuyển giao giữa thế kỷ 19 và thế kỷ 20, hai nhà khoa học Anh là Ray Lankester và Arthur Tansley đã đưa ra khái niệm sinh thái và hệ sinh thái. Cả hai đều là người theo chủ nghĩa xã hội Fabian, một biến thể của chủ nghĩa Marx. Lankester là nhà động vật học, từ khi còn trẻ đã trở thành bạn của ông già Marx. Khi Marx về già, Lankester thường hay lui tới nhà Marx, cũng là một trong số ít những người tham dự lễ tang của Marx. Lankester từng viết thư cho Marx, kể ông ta đang nghiên cứu ‘Tư bản luận’, tác phẩm của Marx năm 1867, và đó là “niềm vui và thu hoạch lớn nhất”. [17]

Tansley là nhân vật quan trọng nhất về sinh thái và thực vật trong giai đoạn đó ở Anh, và với tư cách chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội Sinh thái Anh, ông ta là người phát minh ra thuật ngữ “hệ sinh thái”. Khi học tại Đại học London, Tansley đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Lankester. [18]

Từ mối quan hệ giữa Lankester và Tansley với chủ nghĩa Marx, có thể thấy sinh thái học có gốc gác từ chủ nghĩa Marx — mặc dù đương nhiên, sinh thái học và chủ nghĩa bảo vệ môi trường không phải là một. Sinh thái học là về mối quan hệ giữa các sinh vật sống và môi trường, còn chủ nghĩa bảo vệ môi trường lại quan tâm đến thảm họa sinh thái. Dù vậy, sinh thái học có quan hệ mật thiết với chủ nghĩa bảo vệ môi trường, bởi nó đưa ra cơ sở lý luận để xác định thảm họa sinh thái. Chủ nghĩa Marx sinh thái phát sinh từ sinh thái học lại là một bước tiến nữa xuất phát từ những khái niệm này.

Chủ nghĩa Marx sinh thái đưa thêm khái niệm khủng hoảng sinh thái vào những lập luận của những người theo chủ nghĩa Marx về khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Nó muốn khuếch đại cái gọi là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, bằng cách thêm vào đó mâu thuẫn cố hữu giữa sản xuất và môi trường. Đây chính là cái gọi là thuyết khủng hoảng kép hay mâu thuẫn kép. Trong lý luận của chủ nghĩa Marx, mâu thuẫn căn bản của chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, vốn bị coi là mâu thuẫn chủ yếu. Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn giữa môi trường sản xuất (hệ sinh thái) và lực lượng sản xuất cùng với quan hệ sản xuất. Theo lý luận này, mâu thuẫn chủ yếu dẫn đến khủng hoảng kinh tế, còn mâu thuẫn thứ yếu dẫn đến khủng hoảng sinh thái. [19]

Thực tiễn hơn 100 năm phát triển chủ nghĩa tư bản đã chứng minh chủ nghĩa Marx là sai khi dự báo sai rằng chủ nghĩa tư bản sẽ sụp đổ vì khủng hoảng kinh tế. Ngược lại, chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục thịnh vượng. Như vậy, khái niệm khủng hoảng sinh thái đã trở thành công cụ của chủ nghĩa cộng sản khi các học giả cánh tả phát hiện ra rằng chủ nghĩa Marx có thể là cơ sở lý luận cho chủ nghĩa bảo vệ môi trường, từ đó càng khiến thế giới quan và phong trào bảo vệ môi trường đi theo hướng cấp tiến hơn nữa.

1.4 Chủ nghĩa xã hội sinh thái

Đúng như tên gọi của nó, chủ nghĩa xã hội sinh thái là hình thái ý thức kết hợp sinh thái học và chủ nghĩa xã hội. Các nhà phê bình gọi nó là “quả dưa hấu” –– xanh vỏ đỏ lòng –– vì nó thêm một số yêu cầu điển hình của chủ nghĩa xã hội như “công bằng xã hội” vào các mối quan ngại về sinh thái, hòng thúc đẩy hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa bằng một phương tiện mới.

Chủ nghĩa xã hội sinh thái biểu hiện rõ nhất ở “Tuyên ngôn chủ nghĩa xã hội sinh thái” (is An Ecosocialist Manifesto) do Joel Kovel và Michael Lowy công bố năm 2001. Kovel không thành công trong chiến dịch đề cử ứng viên tổng thống của Đảng Xanh. Lowy là thành viên của Quốc tế Thứ tư phái Trotsky. Tuyên ngôn này viết, chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết được khủng hoảng sinh thái, tất yếu sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa xã hội sinh thái. Họ không coi chủ nghĩa xã hội sinh thái là một chi phái của chủ nghĩa xã hội, mà là một cái tên mới của chủ nghĩa xã hội trong thời đại mới. [20]

Năm 2002, Kovel xuất bản cuốn sách mang tên “Kẻ thù của tự nhiên: Sự kết thúc của chủ nghĩa tư bản hay sự kết thúc của thế giới?” (The Enemy of Nature: The End of Capitalism or the End of the World?). Cuốn sách đã trình bày tỉ mỉ lý luận của chủ nghĩa xã hội sinh thái, chỉ trích gay gắt chủ nghĩa tư bản, và chủ trương sử dụng phương hướng mới cấp tiến hơn để thay đổi hiện trạng. [21]

1.5 Chính trị xanh: Xanh chẳng qua là đỏ mới

Khi chủ nghĩa bảo vệ môi trường chính bước vào vũ đài chính trị thì chính trị xanh (green politics), hay chính trị sinh thái (ecopolitics), cũng ra đời. Đảng Xanh được thành lập ở nhiều quốc gia trên thế giới, chính là sản phẩm của chính trị xanh, không chỉ giới hạn ở việc bảo vệ môi trường, mà đã mở rộng sang công bằng xã hội, chủ nghĩa nữ quyền, vận động phản chiến, và phong trào hòa bình. Global Greens (Tổ chức Xanh Toàn cầu) chẳng hạn là một tổ chức quốc tế liên kết với Đảng Xanh, còn điều lệ năm 2001 của nó mang đậm hình thái ý thức của chủ nghĩa Marx, nhấn mạnh vào cái gọi là bình đẳng giữa con người và động vật. [22]

Chủ nghĩa bảo vệ môi trường thường chịu sự dẫn dắt của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Sau sự sụp đổ của các chính quyền cộng sản ở Nga và Đông Âu, nhiều đảng viên đảng cộng sản và lực lượng tàn dư của chủ nghĩa cộng sản trước kia lại lập nên hoặc gia nhập các đảng xanh, sinh ra hình thái ý thức cánh tả của Đảng Xanh, vì thế mà xuất hiện thuật ngữ “Xanh Tả” (Green Left).

Sau khi Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, nguyên tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev muốn tái xuất chính trường nhưng không thành. Do vậy, ông ta trở thành người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường và thành lập “Hội Chữ thập Xanh Quốc tế” (Green Cross International). Đương nhiên, Gorbachev sẽ đưa nhân tố chủ nghĩa cộng sản vào công cuộc bảo vệ môi trường của ông ta, thường xuyên cổ xúy thành lập chính phủ thế giới để ngăn chặn thảm họa môi trường. [23]

Nhiều đảng cộng sản ở phương Tây trực tiếp tham gia không ít các phong trào bảo vệ môi trường. Jack Mundey, một trong những người sáng lập phong trào lệnh cấm xanh (green ban) của Úc, là đảng viên Đảng Cộng sản Úc. Vợ ông ta là chủ tịch toàn quốc của Đảng Cộng sản Úc. [24]

1.6 Chủ nghĩa khủng bố sinh thái

Vì chịu ảnh hưởng của cánh tả, chủ nghĩa bảo vệ môi trường từ lúc ban sơ đã khá cấp tiến. Nó có nhiều nhánh cấp tiến như sinh thái học bề sâu (Deep Ecology), chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism), sinh thái học xã hội (Social Ecology) và chủ nghĩa địa phương sinh học (Bioregionalism) v.v.. Trong đó, còn có một số tổ chức đặc biệt cấp tiến, nổi tiếng nhất là Earth First! Và “Mặt trận Giải phóng Trái đất” (Earth Liberation Front). Họ lợi dụng những hành động trực tiếp (như dùng chất nổ, phóng hỏa) – gọi là chủ nghĩa khủng bố sinh thái (eco-terrorism) – để ngăn cản các hoạt động mà họ coi là phá hoại môi trường.

Tổ chức Earth First! được thành lập năm 1979, khẩu hiệu của nó là “Bảo vệ mẹ trái đất, quyết không thỏa hiệp!” (No Compromise in Defense of Mother Earth!) Tổ chức này dùng những hành động trực tiếp nhắm vào đối tượng chính như chặt cây, xây đập, và các dự án khác. Một chiến thuật nổi tiếng của tổ chức này được gọi là “ngồi lên cây” –– tức là ngồi dưới gốc cây hoặc leo lên cây –– để ngăn chặt cây. Những hoạt động này của Earth First! đã thu hút nhiều thành viên mới, gồm cả phần tử cánh tả, người theo chủ nghĩa vô chính phủ, và những người nổi loạn chống lại xã hội chủ lưu.

Năm 1992, một số thành viên cấp tiến hơn trong đó đã khơi mào một nhánh gọi là “Mặt trận Giải phóng Trái đất”, lấy phóng hỏa làm chiến thuật. Khoảng cuối năm 2000, chín biệt thự sang trọng trên đảo Long Island của Mỹ bị thiêu thành tro chỉ trong một đêm. Cái cớ chính mà tổ chức này đưa ra là những biệt thự này được xây dựng trong một khu rừng tự nhiên. Sau khi phóng hỏa, tổ chức này còn đưa ra khẩu hiệu “Còn xây, còn đốt!”

Năm 2005, Cục điều tra Liên bang (FBI) tuyên bố Mặt trận Giải phóng Trái đất là mối đe dọa khủng bố lớn nhất ở Hoa Kỳ, bị tình nghi gây ra hơn 1.200 vụ án, gây thiệt hại tài sản lên đến hàng chục triệu USD. [25] Những hành động của họ sớm đã vượt quá giới hạn của các cuộc biểu tình chính trị thông thường hay sự bất đồng quan điểm. Hình thái ý thức của chủ nghĩa cộng sản đã lợi dụng sự thù hận để biến một bộ phận người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường thành phần tử khủng bố sinh thái, không khác gì các phần tử khủng bố khác.

1.7 Greenpeace: Không phải là câu chuyện về hòa bình

Greenpeace (Hòa bình Xanh) được thành lập năm 1971 là tổ chức bảo vệ môi trường lớn nhất trên thế giới, có văn phòng ở 40 quốc gia, với thu nhập hàng năm hơn 350 triệu USD. Greenpeace cũng là một trong những tổ chức môi trường cấp tiến nhất trên thế giới.

Paul Watson, người đồng sáng lập Greenpeace, đã rời tổ chức này năm 1977, cho biết “Bí quyết thành công của David McTaggart [nguyên chủ tịch Greenpeace] cũng chính là bí quyết thành công của Greenpeace: Điều gì đúng không quan trọng, quan trọng là người ta cho rằng điều gì là đúng… Bạn là người như thế nào là do truyền thông định ra. [Greenpeace] đã trở thành một huyền thoại, một cỗ máy chế ra huyền thoại như thế.” [26]

Patrick Moore, một người đồng sáng lập khác của Greenpeace, từng cam kết sẽ cống hiến vì công cuộc bảo vệ môi trường. Sau đó, ông đã từ bỏ chức vụ ở Greenpeace khi phát hiện rằng tổ chức này “đã quay ngoắt sang cánh tả”. [27] Nó phát triển thành một tổ chức cực đoan có mục tiêu chính trị, như đối địch với mọi loại sản xuất công nghiệp và cho thấy nó hoạt động vì mục đích chính trị nhiều hơn là khoa học. [28]

Sách lược của các tổ chức bảo vệ môi trường cấp tiến như Greenpeace là không từ thủ đoạn để đạt mục tiêu. Về mặt này chủ nghĩa bảo vệ môi trường có sự nhất trí cao với chủ nghĩa cộng sản. Năm 2007, sáu thành viên của Greenpeace đã đột nhập vào phá hoại một nhà máy nhiệt điện của Anh. Họ bị khởi tố vì gây thiệt hại tài sản khoảng 30.000 bảng Anh. Họ đã thừa nhận mưu đồ đóng cửa nhà máy điện này, nhưng tuyên bố rằng họ làm vậy để ngăn chặn thiệt hại lớn hơn (tức là khủng hoảng môi trường do khí thải nhà kính). Tòa án này cuối cùng đã đồng ý rằng hành vi của họ là vô tội.

Trước vụ việc này, Greenpeace đã có nhiều lần thắng kiện kiểu như vậy, kể cả vụ phá hoại các nhà máy điện nguyên tử, các công ty ô tô, và cơ sở sản xuất máy bay chiến đấu. [29] Ranh giới giữa hợp pháp và phi pháp đã bị xóa nhòa bởi thứ logic đó.

Chủ nghĩa Marx-Lenin truyền thống lợi dụng sự hứa hẹn về một xã hội không tưởng ở cuối đường hầm để hợp pháp hóa việc giết người, phóng hỏa, và cướp đoạt tài sản. Tương tự, dưới danh nghĩa chủ nghĩa bảo vệ môi trường, những người cộng sản cảnh báo về khủng hoảng môi trường để hợp pháp hóa các thủ đoạn bạo lực và phi pháp.

Trong ví dụ trên, các thành viên của Greenpeace đã thuyết phục được bồi thẩm đoàn chấp nhận rằng động cơ phạm tội của họ là chính đáng. Điều đó cho thấy đông đảo người trong xã hội có thể bị lạc hướng mà chấp nhận những thứ lập luận tự thị nhi phi (tưởng đúng mà sai), vô căn cứ. Đó đều là ruồng bỏ những giá trị phổ quát, và là dấu hiệu về sự băng hoại đạo đức xã hội.

2. Tính hoang đường của sự đồng thuận về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là vấn đề nóng của xã hội ngày nay. Các cuộc tranh luận của công chúng xung quanh vấn đề này cũng sôi động một cách bất thường, dù là giới truyền thông, công chúng hay là giới chính trị đều có những ý kiến khác nhau. Cách nói thường thấy nhất trong vấn đề này là: vì con người thải khí gây hiệu ứng nhà kính mà gây ra sự nóng lên toàn cầu, và sẽ dẫn đến thảm họa khí hậu nguy hiểm. Các nhà hoạt động môi trường tuyên bố rằng kết luận này đã đạt được sự đồng thuận mang tính khoa học (scientific concensus) hay đây là ngành khoa học đã được công nhận (settled science). Đối với một số nhà hoạt động môi trường, những người phản đối kết luận này không những bị coi là phản khoa học, mà còn là phản nhân loại.

Các thành viên Greenpeace đề cập bên trên, sau khi phá hoại nhà máy điện, lại được phán quyết vô tội, chính là vì một chuyên gia nổi tiếng từng đề xướng loại đồng thuận này đã chứng thực cho họ khi tuyên bố rằng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính do nhà máy điện này thải ra mỗi ngày sẽ dẫn đến hơn 400 loài bị hủy diệt v.v.

Phải chăng giới khoa học thực sự đã đạt được sự đồng thuận này? Nguyên giáo sư khí tượng học Richard Lindzen của Viện Công nghệ Massachusetts đã có bài viết năm 2007 để bày tỏ quan điểm rằng thực ra, khoa học khí hậu chưa hề được công nhận. [30] Steven Koonin, nguyên Thứ trưởng phụ trách Khoa học của Bộ Năng lượng Mỹ, giáo sư của Đại học New York, viết trong một bài viết năm 2014 có tựa đề “Khoa học khí hậu chưa được công nhận” (Climate Science Is Not Settled) rằng, “Chúng ta còn xa mới có đủ tri thức cần thiết để đưa ra một chính sách tốt về khí hậu.” [31] Trong một bài viết khác, Koonin cũng nhắn nhủ độc giả rằng, “Công chúng hầu như không biết gì về những tranh luận kịch liệt trong giới khoa học khí hậu. Tại một cuộc họp các phòng thí nghiệm toàn quốc gần đây, tôi quan sát thấy hơn 100 nhà nghiên cứu của chính phủ và các trường đại học chất vấn nhau khi cố gắng tách bạch giữa tác động của con người khỏi sự biến đổi tự nhiên của khí hậu. Vấn đề ở đây không phải là mức độ tác động nhiều ít bao nhiêu, mà là những phương diện căn bản trong cách hiểu của chúng ta, chẳng hạn như mực nước biển toàn cầu dâng lên trong hai thập kỷ qua đã chậm lại rõ rệt, cũng là hiện tượng nằm ngoài dự kiến.” [32]

Nhiệt độ bề mặt trái đất từ năm 1880 đến nay nhìn chung là theo chiều hướng tăng lên, khí CO2 và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính khác do con người thải vào bầu khí quyển có gây hiệu ứng nóng lên trên thế giới. Về những vấn đề cơ bản này, ý kiến của các nhà khoa học không khác nhau nhiều. Tuy nhiên, những vấn đề quan trọng hơn, cũng là trọng điểm tranh luận của các nhà khoa học là: Sự nóng lên này có phải chủ yếu do hoạt động của con người gây ra hay do nguyên nhân tự nhiên? Đến cuối thế kỷ 21, địa cầu sẽ nóng lên đến mức nào? Con người có khả năng dự đoán khí hậu sẽ biến đổi như thế nào trong tương lai hay không? Sự nóng lên có dẫn đến “thảm họa” gì không?

Tuy nhiên, xét từ một góc độ khác, giới khoa học xem ra đã đạt được sự “đồng thuận” nào đó hoặc sự công nhận ở mức độ nào đó về ngành khoa học biến đổi khí hậu, vì tiếng nói phản đối cái gọi là sự “đồng thuận” này hiếm khi xuất hiện trên truyền thông hay các tạp chí học thuật.

Nhà vật lý học Michael Griffin, nguyên Giám đốc Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA), đã phát biểu trong cuộc phỏng vấn với Đài Phát thanh Công cộng Quốc gia (National Public Radio) năm 2007 như sau:

Tôi không có chút nghi ngờ nào về sự tồn tại của xu thế nóng lên toàn cầu. Tôi không chắc có hợp lý không khi nói đó là vấn đề mà chúng ta cứ phải vật lộn để giải quyết. Nếu cứ giả định nó là vấn đề thì cũng chính là giả định rằng trạng thái của khí hậu trái đất hiện nay là khí hậu tối ưu nhất, tốt nhất mà chúng ta có thể có hoặc đã từng có, và rằng chúng ta cần phải có biện pháp để đảm bảo nó sẽ không thay đổi.

Trước hết, tôi không cho rằng con người có năng lực để đảm bảo khí hậu sẽ không thay đổi, vì lịch sử hàng triệu năm qua đã chứng minh điều đó; thứ nữa, tôi nghĩ tôi sẽ hỏi loài người nào –– ở đâu và khi nào –– được ban cho đặc quyền để quyết định rằng điều kiện khí hậu mà chúng ta đang có ngay tại đây hôm nay, ngay lúc này là khí hậu tốt nhất cho tất cả nhân loại. Tôi cho rằng nếu con người tự cho mình cái địa vị đó thì quả hơi ngạo mạn. [33]

Mặc dù Griffin đã cố gắng bày tỏ sự khiêm tốn mà con người nên có trong khoa học, nhưng ông đã lập tức bị giới truyền thông và một số nhà khí hậu học chỉ trích gay gắt, thậm chí còn nói những nhận định của ông là thiếu hiểu biết. Ngày hôm sau, dưới áp lực to lớn, ông đã buộc phải lên tiếng xin lỗi. [34]

Mấy tháng sau sự việc trên, trong một cuộc phỏng vấn khác, Griffin lại bình luận rằng: “Cá nhân tôi cho rằng mọi người đã đi quá trong các cuộc thảo luận về biến đổi khí hậu, tới mức nếu xem nó là một vấn đề chuyên môn kỹ thuật thôi cũng thành gần như không hợp pháp. Nó dường như đã đạt đến địa vị của tôn giáo, tôi thấy thật đáng trách.” Từ quan điểm của Griffin về sự “đồng thuận mang tính khoa học”, chúng ta thấy cái gọi là sự đồng thuận về vấn đề biến đổi khí hậu, thực tế, không phải là một quá trình khoa học. Ông cho rằng quá trình khoa học là kết quả của sự tranh luận: “Anh dựng lên lý luận của anh, công bố số liệu của anh, đưa ra khái niệm của anh, còn người khác có thể bác bỏ, hoặc tìm cách bác bỏ. Sự đồng thuận khoa học đạt được bằng cách ấy.” [35] Bản thân việc dùng mọi hình thức, mọi thủ đoạn để bóp nghẹt tranh luận khoa học đã đi ngược lại tinh thần khoa học.

Vì danh tiếng và vị thế ưu tú trong ngành, Giáo sư Lennart Bengtsson, thành viên Hội Khí tượng Hoàng gia Anh, nguyên giám đốc Trung tâm Dự báo Thời tiết Tầm trung của Châu Âu, đã tham gia Tổ chức Chính sách Nóng lên Toàn cầu (Global Warming Policy Foundation, GWPF), một viện nghiên cứu chính sách phản biện lý luận về sự nóng lên toàn cầu. Vì thế, ông phải chịu áp lực rất lớn, cũng như sự theo dõi của các nhà chuyên môn trong ngành trên khắp thế giới. Hai tuần sau đó, ông đã buộc phải từ chức.

Bengtsson giải thích trong thư từ chức: “Những ngày gần đây, tôi bị đặt dưới áp lực tập thể lớn khủng khiếp đến vậy từ khắp nơi trên thế giới, mà tôi cảm thấy đã tới mức không chịu đựng nổi nữa. Nếu cứ tiếp tục thế này, tôi sẽ không thể làm công việc bình thường của mình được mà còn phải lo cho sức khỏe và sự an toàn của mình… Các đồng nghiệp không còn ủng hộ tôi, những đồng nghiệp khác đã từ chối đứng tên đồng tác giả, v.v. … Tôi chưa từng nghĩ lại có thể xảy ra điều tương tự [như thời kỳ của Thượng nghị sỹ McCarthy] trong một cộng đồng vốn ôn hòa như khí tượng học. Hiển nhiên, những năm gần đây nó đã biến đổi rồi.” [36]

Quan sát của Bengtsson là đúng: “Sự biến đổi trong những năm gần đây” ấy là kết quả của hình thái ý thức cộng sản và những chiêu thuật đấu tranh đã thao túng lĩnh vực khí tượng học.

Trên thực tế, cái gọi là sự đồng thuận mang tính khoa học về vấn đề biến đổi khí hậu đã biến thuyết biến đổi khí hậu thành một thứ giáo điều. Biến đổi khí hậu cũng là một tín điều quan trọng nhất của chủ nghĩa bảo vệ môi trường ngày nay – là bất khả phạm húy, bất khả xâm phạm. Các nhà khoa học, truyền thông và các nhà hoạt động bảo vệ môi trường tiếp nhận giáo điều này đều cùng phát tán nỗi sợ về một thảm họa sắp xảy ra. Thông qua quá trình hình thành và củng cố giáo điều này, những chiêu bài đấu tranh chính trị kiểu cộng sản, bao gồm lừa mị, công kích, làm bẽ mặt trước công chúng, chỉ điểm, và gây mâu thuẫn công khai, đều đã lộ rõ.

2.1 Tóm lược quá trình đạt được sự “đồng thuận” về khoa học khí hậu

Năm 1988, Hội đồng Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change, IPCC) được thành lập. Một trong những sứ mệnh quan trọng của nó là đánh giá nghiên cứu khoa học hiện có 5 năm một lần và đưa ra tuyên bố có căn cứ về các vấn đề biến đổi khí hậu, xây dựng sự “đồng thuận mang tính khoa học” trong vấn đề biến đổi khí hậu, đưa ra cơ sở khoa học phục vụ việc hoạch định chính sách. [37] Báo cáo của IPCC thường kèm theo một danh sách hàng nghìn tác giả chính, đồng tác giả, và nhà phê bình. Do vậy, các kết luận trong báo cáo IPCC thường được coi là sự “đồng thuận” của hàng nghìn nhà khoa học hàng đầu thế giới.

Năm 1992, Công ước Khung về Biến đổi Khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) nêu rõ mục tiêu của nó là ổn định nồng độ khí nhà kính trong bầu khí quyển ở mức có thể ngăn nguy cơ tác động nguy hiểm của con người đối với hệ khí hậu. Cần lưu ý rằng ở đây đã giả thiết rằng biến đổi khí hậu là do con người gây ra và có nguy hiểm. Sau đó, IPCC lại được giao nhiệm vụ xác định “các tác động của con người đối với khí hậu” và “tác hại của biến đổi khí hậu đối với kinh tế xã hội và môi trường”. [38] Giả thiết của UNFCCC rằng con người là thủ phạm gây ra sự biến đổi khí hậu nguy hiểm đã hạn chế phạm vi đối tượng mà IPCC cần xác định. Hơn nữa, nếu biến đổi khí hậu không gây nguy hiểm, hoặc không phải chỉ do ngành công nghiệp gây ra, thì cũng không cần hoạch định chính sách nào, nên cũng không có lý do gì để IPCC tồn tại. Những mâu thuẫn về lợi ích này cũng đã giới hạn trọng tâm nghiên cứu của IPCC. [39]

Báo cáo của IPCC đã lược bỏ những tuyên bố về sự không chắc chắn (uncertainty statement)

Ngay trước khi IPCC công bố Báo cáo Đánh giá Thứ hai vào năm 1995, Frederick Seitz, một nhà vật lý học nổi tiếng thế giới, nguyên Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia, Hiệu trưởng Đại học Rockefeller của New York, đã có được bản sao của báo cáo này. Sau đó, Seitz phát hiện ra nội dung của báo cáo này đã bị thay đổi rất nhiều sau vòng thẩm định khoa học và trước khi được gửi đi in. Toàn bộ những tuyên bố về sự không chắc chắn rằng các hoạt động của con người là tác nhân gây ra biến đối khí hậu đều đã bị xóa bỏ.

Seitz đã nêu trong bài viết trên Tạp chí Phố Wall (The Wall Street Journal) như sau: “Hơn 60 năm là thành viên của cộng đồng khoa học Mỹ, … tôi chưa từng thấy quá trình thẩm định chéo nào thối nát như cuộc thẩm định báo cáo IPCC này.” [40]

Những câu bị xóa bỏ bao gồm: [41]

“Không có nghiên cứu nào trích dẫn bên trên cho thấy bằng chứng rõ ràng để chúng ta có thể quy kết nguyên nhân cụ thể của những biến đổi [khí hậu] quan sát được là do sự gia tăng của khí thải nhà kính.”

“Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào khẳng định toàn bộ hay một bộ phận [biến đổi khí hậu quan sát được cho đến nay] là do con người gây ra.”

“Bất kỳ tuyên bố nào khẳng định đã phát hiện có sự biến đổi lớn về khí hậu nhiều khả năng sẽ gây tranh cãi cho đến khi những biến tố trong toàn bộ tính khả biến tự nhiên của hệ thống khí hậu giảm xuống.”

Mặc dù sau đó IPCC tuyên bố mọi chỉnh sửa đều đã được các tác giả đồng ý, nhưng những thay đổi này ít nhất đã cho thấy công tác báo cáo của IPCC đã chịu ảnh hưởng của chính trị. Báo cáo đánh giá này không hề có một nghiên cứu gốc nào, mà chủ yếu chỉ tổng kết những nghiên cứu đã có. Vì những nghiên cứu đã có mang quá nhiều quan điểm trái chiều, nên nhiều khả năng để “đạt được sự đồng thuận” theo mục tiêu mà IPCC đặt ra, thì tổ chức này đơn giản đã loại ra những quan điểm đối lập.

Tháng 4/2000, bản thảo của Báo cáo Đánh giá Thứ ba của IPCC đã chỉ ra rằng: “Đã có thể nhận thấy rõ ảnh hưởng của con người đối với khí hậu toàn cầu.” Còn phiên bản công bố vào tháng 10 năm đó của báo cáo này lại nói: “Nhiều khả năng là sự tập trung ngày càng nhiều khí nhà kính do con người thải ra là tác nhân chính gây ra hiện tượng nóng lên đã quan sát được trong 50 năm qua.” Kết luận chính thức trong bản cuối cùng còn tuyên bố quả quyết hơn: “Hầu hết hiện tượng nóng lên quan sát được trong 50 năm qua nhiều khả năng là do sự tập trung ngày càng nhiều khí nhà kính.”

Khi người phát ngôn của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (U.N. Environment Programme), Tim Higham, được hỏi về căn cứ khoa học của sự biến đổi được thổi thồng này, ông thành thật trả lời rằng: “Không có [phát hiện] khoa học mới nào cả, nhưng các nhà khoa học muốn đưa ra thông điệp mạnh mẽ và rõ ràng cho các nhà hoạch định chính sách.” [42]

Nói cách khác, UNFCCC đã giao bài tập về nhà cho IPCC kèm theo đáp án rõ ràng theo ý muốn của họ. Như vậy, IPCC chỉ việc trả bài theo yêu cầu.

Báo cáo của IPCC phóng đại sự “đồng thuận về thảm họa”

Giáo sư Paul Reiter của Viện Pasteur, Pháp là một chuyên gia hàng đầu về bệnh sốt rét và các bệnh truyền nhiễm do côn trùng khác. Ông không đồng ý với báo cáo của IPCC nên buộc phải dọa khởi kiện IPCC để gỡ bỏ tên của mình ra khỏi danh sách 2.000 chuyên gia hàng đầu tán thành báo cáo của IPCC. Ông cho hay báo cáo của IPCC “làm ra vẻ tất cả các nhà khoa học hàng đầu đã đồng ý, nhưng đó không phải là sự thật.” [43]

Khi làm chứng trước Thượng viện Hoa Kỳ ngày 25/04/2006, Reiter nói: “Điều nhức nhối trong cuộc tranh luận này là, thứ ‘khoa học’ rởm này lại được các hội đồng ‘chuyên gia’ có tầm ảnh hưởng tán thành trong diễn đàn của công chúng. Tôi đang nói cụ thể về Hội đồng Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Cứ 5 năm một lần, tổ chức Liên Hợp Quốc này lại công bố một báo cáo về sự ‘đồng thuận của các nhà khoa học hàng đầu thế giới’ về mọi phương diện của biến đổi khí hậu. Không chỉ quá trình chọn lựa các nhà khoa học này hết sức đáng nghi ngờ, mà cả loại đồng thuận này cũng chỉ là một thứ chính trị, chứ không phải là khoa học.” [44]

Các nhà bảo vệ môi trường vẫn hay tuyên truyền quan niệm rằng những bệnh do côn trùng gây ra như bệnh sốt rét sẽ hoành hành khi khí hậu tiếp tục nóng lên. Đây cũng là luận điệu chính của IPCC. Như Bloomberg đã chỉ ra ngày 27/11/2007, “Theo một báo cáo của Liên Hợp Quốc, sự nóng lên toàn cầu sẽ khiến hàng triệu người có nguy cơ mắc bệnh sốt xuất huyết và sốt rét. Báo cáo này kêu gọi khẩn cấp rà soát các tác hại đối với sức khỏe do biến đổi khí hậu gây ra.” [45] Nhưng Reiter không công nhận kiểu liên hệ đơn giản giữa sự nóng lên của khí hậu và nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm.

Ông chỉ ra rằng, bệnh sốt rét không chỉ tồn tại ở vùng nhiệt đới. Những năm 1920, ở Liên Xô, đã xảy ra đợt bùng phát dịch sốt rét, thậm chí cả ở thành phố Archangel (ArkhEngelsk) gần Bắc Cực cũng có đến 30.000 trường hợp mắc bệnh sốt rét, gây ra cái chết cho 10.000 người. [46] Theo một bài báo năm 2011 của tạp chí “Tự nhiên” (Nature), các nhà khoa học đã phát hiện một điều trái với giả định trước kia rằng, trong điều kiện nhiệt độ tăng cao thì khả năng truyền bệnh sốt rét của muỗi vằn lại thấp hơn. [47] Điều này đã chứng thực quan điểm của Reiter.

Việc một nhà khoa học khác rút khỏi IPCC cũng cho thấy việc lợi dụng cái gọi là sự “đồng thuận về thảm họa” này đã trở thành một nét văn hóa vận hành của tổ chức này. Christopher Landsea, chuyên gia nghiên cứu bão nhiệt đới (hurricane) của Cục Hải dương và Khí quyển Hoa Kỳ, một trong những tác giả chính của Báo cáo Đánh giá Thứ tư, cũng đã rút khỏi IPCC vào tháng 1/2005. Trong một bức thư ngỏ, ông viết: “Cá nhân tôi không thể tin tưởng mà tiếp tục đóng góp vào một quy trình mà tôi xem là vừa có động cơ từ những ý đồ đã định sẵn, vừa phi lý về mặt khoa học.” Ông yêu cầu IPCC xác nhận báo cáo này sẽ trung thành với khoa học, chứ không đi theo hướng kích động cảm xúc của con người. [48]

Landsea không đồng ý với tác giả chính của báo cáo của IPCC về mối quan hệ giữa bão nhiệt đới và biến đổi khí hậu. Tác giả chính (không phải là một chuyên gia nghiên cứu về bão) nhấn mạnh rằng khí hậu nóng lên có thể gây ra bão mạnh hơn, trong khi không đưa ra được dữ liệu thực tế xác đáng để chứng minh luận điểm này. Landsea chỉ ra rằng, những nghiên cứu trước đây cho thấy các ghi chép trong lịch sử không thể chứng minh được loại quan hệ này; còn từ lý luận mà xét thì cho dù có liên quan cũng là rất nhỏ, không ý nghĩa gì lắm.

David Deming, nhà địa chất học và địa vật lý học của Đại học Oklahoma, có được dữ liệu về nhiệt độ của Bắc Mỹ qua 150 năm lịch sử bằng cách nghiên cứu lõi băng, và công bố bài báo nghiên cứu của ông trong tạp chí “Khoa học” (Science). Những người đề xướng giáo điều đồng thuận bấy giờ coi Deming là một nhân vật tiêu biểu của giáo điều này. Trong một phiên điều trần tại Thượng viện Hoa Kỳ, Deming cho biết, một tác giả chính của IPCC đã gửi ông một email nói, “Chúng ta phải xóa đi giai đoạn nóng thời trung cổ.” [49] Giai đoạn nóng thời trung cổ là nói đến hiện tượng khí hậu nóng lên ở khu vực Bắc Đại Tây Dương trong những năm 950 đến 1150 sau công nguyên. Xóa đi giai đoạn này khỏi biểu đồ biến đổi khí hậu trong lịch sử sẽ có thể củng cố cho tuyên bố rằng hiện tượng nóng lên hiện nay là “chưa từng có”.

Những việc kiểu như thế rất nhiều. Trong cuốn sách “Những lời nói dối bỏng môi, các nhà cảnh báo nóng lên toàn cầu dùng đe dọa, gian lận, và lừa bịp để khiến bạn lạc hướng như thế nào” (Red Hot LiesHow Global Warming Alarmists Use Threats, Fraud, and Deception to Keep You Misinformed), Christopher C. Horner, nhà nghiên cứu kỳ cựu của Viện Nghiên cứu Doanh nghiệp Cạnh tranh của Mỹ, đã nêu tên rất nhiều chuyên gia nguyên là tác giả của IPCC mà đã phản đối kết luận của IPCC hay các hoạt động làm chính trị của nó. [50] Họ đã đưa ra những câu hỏi có căn cứ, kèm theo dữ liệu chứng minh và chất vấn cái gọi là “đồng thuận” của IPCC. Tuy nhiên, trong môi trường truyền thông và học thuật hiện nay, tiếng nói của họ đã bị đẩy ra ngoài rìa.

2.2 Quá trình xác lập giáo điều trong giới khoa học

Việc xác lập và củng cố cái gọi là “đồng thuận” trong vấn đề biến đổi khí hậu là một bước quan trọng trong việc lợi dụng chủ nghĩa bảo vệ môi trường để lôi kéo công chúng, phóng đại ý thức về thảm họa, và bóp méo giá trị quan của nhân loại. Nếu đi đến kết luận thì quỹ đạo tất yếu sẽ là phải thành lập một chính phủ siêu cấp toàn cầu – tức là chủ nghĩa cộng sản. Mặc dù vấn đề này chủ yếu được khai thác trong giới khoa học, nhưng nó lại được trợ sức bởi truyền thông, chính phủ và các tổ chức học thuật.

Bất cứ nhà khoa học nào, dù có uy tín cao đến đâu trong giới học thuật, một khi công khai phát biểu những nghi ngờ về giáo điều đồng thuận, sẽ lập tức phải đối mặt với áp lực cực lớn từ các đồng sự cũng như các cơ sở học thuật buộc họ phải khuất phục. Những người từng sống trong xã hội cực quyền cộng sản đều đã kinh qua những trải nghiệm như vậy, chỉ khác ở chỗ điều họ chất vấn là giáo điều của đảng cộng sản.

David Bellamy, một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng của Anh, cũng là chủ tịch Hội Động vật Hoang dã Hoàng gia (Royal Society of Wildlife Trusts). Nhưng sau khi ông công khai tuyên bố không tin giáo điều “đồng thuận” về thuyết nóng lên toàn cầu, cơ quan này đã ra tuyên bố thể thiện sự không bằng lòng với ông. [51] Sau đó, ông không giữ chức chủ tịch của hội này nữa, còn những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường từng kính trọng ông lại quay sang cho rằng ông bị mất trí hoặc đã nhận tiền của các công ty dầu mỏ (Big Oil). [52]

Henk Tennekes, nguyên chủ tịch Hội Khí tượng Hoàng gia Hà Lan, vì không ủng hộ giáo điều đồng thuận về biến đổi khí hậu mà bị cách chức. Tương tự, Aksel Winn-Nielsen, một công chức của Tổ chức Khí tượng Thế giới đã bị các viên chức của IPCC quy kết là “công cụ của giới công nghiệp”. Hai nhà nghiên cứu người Italia là Alfonso Sutera and Antonios, sau khi nghi ngờ về thuyết con người gây ra hiện tượng khí hậu nóng lên, thì không còn xin được quỹ tài trợ nghiên cứu nữa. [53]

Trong cuốn sách “Khí hậu cực đoan: Những điều họ không muốn bạn biết về khoa học nóng lên toàn cầu” (Climate of Extremes: Global Warming Science They Don’t Want You to Know), Patrick J.Michaels, nguyên chủ tịch Hiệp hội các Nhà Khí hậu học Cấp bang của Mỹ (American Association of State Climatologists) và là nhà khí hậu học của Đại học Virginia, đã nêu rất nhiều ví dụ về việc các nhà theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường áp bức những nhà khoa học bất đồng ý kiến để đạt được cái gọi là “đồng thuận”. Vì ông khẳng định biến đổi khí hậu sẽ không gây ra thảm họa – mà lập trường lạc quan này lại không nhất quán với giáo điều đồng thuận – nên một hôm, ông đã bị thống đốc bang thông báo rằng ông không được phát biểu về vấn đề nóng lên toàn cầu với tư cách nhà khí hậu học của tiểu bang nữa. Cuối cùng, ông đã chọn từ chức.

George Taylor, một nhà khí hậu học cấp bang khác của Đại học Bang Oregon, cũng gặp phải phiền phức như vậy, và cũng buộc phải từ chức. David Legates, nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khí hậu của Đại học Delaware, là nhà khí hậu học của bang Delaware, cũng bị thống đốc bang thông báo không được phát biểu về vấn đề nóng lên toàn cầu với tư cách nhà khí hậu học của tiểu bang nữa. Mark Albright, trợ lý của một nhà khí hậu học bang Washington, bị sa thải vì mặc dù đã được sếp dặn dò nhưng vẫn gửi email toàn bộ tài liệu về tình hình tuyết rơi ở rặng núi Cascade cho một phóng viên và người dân của tiểu bang có thắc mắc, thay vì chọn ra một phần số liệu (thể hiện xu hướng nóng lên). [54]

Tiêu điểm tranh luận ở đây là về chuyên môn của các nhà khí hậu học – tức là các vấn đề về khoa học khí hậu, chứ không phải vấn đề về chính sách của tiểu bang. Ở các quốc gia cộng sản, việc chính trị can thiệp thô bạo vào khoa học là điều thường thấy. Ở các quốc gia phương Tây, những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường đang dùng chính trị để can thiệp vào tự do học thuật. Rất ít thấy tập san học thuật nào có bài nghiên cứu thể hiện quan điểm hoài nghi đối với giáo điều đồng thuận; hiện tượng này bắt đầu từ những năm 1990. Michaels đã bình luận trong bộ phim tài liệu “Âm mưu nhà kính” (The Greenhouse Conspiracy) năm 1990 trên kênh truyền hình 4 của Anh rằng nếu quan điểm của ai đó không được chấp nhận về mặt chính trị thì người đó sẽ gặp phiền phức. Bài báo của ông không chỉ bị một tập san học thuật từ chối xuất bản. Khi ông hỏi biên tập viên của tập san đó về lý do, câu trả lời mà ông nhận được là, bài báo của ông phải đạt tiêu chuẩn đánh giá cao hơn những bài khác.

Theo báo cáo của IPCC năm 1990, nhận thức tại thời điểm đó là mức độ nóng lên toàn cầu tương ứng với những biến đổi tự nhiên của khí hậu. Do vậy, cho dù quan điểm của Michaels khác với quan điểm của nhiều người khác thì cũng không thể bị coi là cực kỳ lập dị. Tuy nhiên, vì mục tiêu xác lập sự “đồng thuận” giả tạo này đã được định ra rồi nên ai cũng phải lên thuyền thôi.

Sự thiên vị của các quỹ chính phủ càng có tác dụng lớn trong việc hình thành và củng cố cái được gọi là “đồng thuận” này. Giả thuyết rằng con người là tác nhân gây ra sự nóng lên toàn cầu và các loại thảm họa tự nhiên đã dẫn đến tình huống các nghiên cứu về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng đối với việc hoạch định chính sách. Vì thế, những nghiên cứu ủng hộ giả thuyết này sẽ dễ dàng nhận được nguồn tài trợ lớn để nghiên cứu, theo đó, một lượng lớn các bài viết học thuật cũng được xuất bản. Ngược lại, kiểu đồng thuận cưỡng chế này cản trở các nhà khoa học khám phá và nghiên cứu theo các chiều hướng tiềm năng khác.

William Gray, một giáo sư nổi tiếng, là người tiên phong trong nghiên cứu về bão của Mỹ. Ông phát hiện rằng, vì ông phê bình giáo điều đồng thuận về thuyết khí hậu này, mà đơn xin tài trợ nghiên cứu của ông liên tiếp bị từ chối. [55]

Tháng 3/2008, nhiều nhà khoa học hoài nghi giáo điều “đồng thuận” về các vấn đề khí hậu đã tổ chức một hội thảo học thuật riêng ở New York. Những nhà khoa học này chia sẻ rằng họ gặp rất nhiều trở ngại khi cố gắng công bố kết quả nghiên cứu trong các tạp chí học thuật. Chuyên gia khí tượng Joseph D’Aleo, nguyên chủ tịch Ủy ban Phân tích và Dự báo Thời tiết của Hội Khoa học Khí tượng Mỹ, cho biết một số đồng nghiệp của ông không dám tham gia cuộc họp này vì lo ngại sẽ bị đuổi việc. Ông cho rằng “nhiều khả năng đại đa số những người im lặng”, gồm cả các nhà khoa học ngành khí hậu học, khí tượng học và các ngành khoa học liên quan khác, không ủng hộ luận điểm ‘đồng thuận’ này. [56]

Giáo sư Judith Curry, nguyên trưởng khoa Khoa học Khí quyển và Địa cầu của Học viện Công nghệ Georgia, đã chứng minh trong một phiên điều trần của Thượng viện năm 2015 rằng một nhà khoa học làm ở NASA đã kể với bà rằng: “Tôi đã tham gia một hội nghị nhỏ dành cho các nhà khoa học có liên kết với NASA, quản lý cấp cao nhất của chúng tôi nói rằng, sếp NASA của ông ấy bảo chúng tôi không nên tìm cách công bố những bài báo trái ngược với luận điệu nóng lên toàn cầu hiện nay, vì ông ấy (ông sếp NASA) e ngại sẽ phải đau đầu khi đối mặt với dư luận ‘không mong muốn’. [57]

Curry còn cho biết trong lời chứng: “Một nhà khoa học khí hậu mà có lời phát biểu thể hiện sự không chắc chắn hay hoài nghi ở mức độ nào đó, thì sẽ bị quy chụp là ‘kẻ phủ nhận’ hoặc ‘kẻ có giao dịch mờ ám’ (merchant of doubt), tức là kẻ mang động cơ truyền bá hình thái ý thức nào đó hoặc đã ăn tiền của ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch. Bản thân tôi, vì công khai bàn luận những quan ngại về việc IPCC xác định thế nào là không chắc chắn, mà bị dán nhãn là ‘kẻ lập dị về khí hậu học’ phản bội các cộng sự của mình… Các nhà khoa học khí hậu chịu áp lực cực lớn khiến họ phải khuất phục cái gọi là ‘đồng thuận’ này. Loại áp lực này không chỉ đến từ các chính trị gia, mà cả từ các cơ quan tài trợ liên bang, các trường đại học, các hiệp hội chuyên môn, và chính các nhà khoa học hoạt động và ủng hộ phong trào xanh. Ai củng cố thứ đồng thuận này sẽ được lợi ích to lớn về tiền bạc, danh tiếng và quyền hành.” [58]

Curry là thành viên của Hội Khí tượng Mỹ, ủy viên Ủy ban Nghiên cứu Khí hậu của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Mỹ (National Research Council’s Climate Research Committee). Dù có thành tích học thuật nổi trội, nhưng vì không muốn tiếp tục sống trong áp lực nên bà đã quyết định về hưu sớm. Do bà đã chất vấn về sự “đồng thuận” của IPCC trong những năm gần đây mà bà bị cả truyền thông lẫn các nhà khoa học khác và một thượng nghị sỹ bêu riếu bằng những cái mác như “phản khoa học”, “kẻ phủ nhận” v.v.. Một nghị sỹ Quốc hội thậm chí còn gửi thư đến Viện trưởng Viện Công nghệ Georgia để tra hỏi về động cơ của Curry. [59] Bà chia sẻ một lý do nữa khiến bà về hưu sớm là vì bà cảm thấy không thể nói cho sinh viên và các nghiên cứu sinh sau tiến sỹ làm sao để “phủ nhận sự ĐIÊN RỒ này trong lĩnh vực khoa học khí hậu”. [60]

Roger Pielke Jr., một giáo sư của Đại học Colorado, đã từng hợp tác với Curry nghiên cứu vấn đề nóng lên của khí hậu. Ban đầu, ông làm việc ở Viện Hợp tác Nghiên cứu Khoa học Môi trường (CIRES) của trường đại học này. Mặc dù ông đồng tình với phần lớn kết luận trong báo cáo “đồng thuận” của IPCC, nhưng vẫn gặp phải áp lực tương tự bởi ông đã chỉ ra rằng dữ liệu không chứng minh luận điểm cho rằng các hiện tượng khí hậu cực đoan như bão nhiệt đới, lốc xoáy, và hạn hán chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Cuối cùng, ông đã chuyển sang Trung tâm Nghiên cứu Quản lý Thể dục Thể thao của Đại học Colorado. [61]

Pielke chỉ ra rằng, kinh nghiệm của Curry cho thấy “có danh hiệu giáo sư suốt đời cũng không đảm bảo được tự do học thuật”. [62] Không ngạc nhiên khi Joanne Simpson, một cán bộ của Viện Khoa học Hàn lâm Kỹ thuật Mỹ, nguyên là nhà khoa học khí quyển kiệt xuất của NASA, sau khi về hưu mới tuyên bố thái độ hoài nghi về sự “đồng thuận”: “Vì tôi không còn là thành viên của tổ chức nào nữa, cũng không nhận quỹ nào, nên tôi có thể nói rất thẳng.” Bà nói, “Là một nhà khoa học, tôi vẫn giữ thái độ hoài nghi.” [63]

2.3 Các nhà khoa học không thừa nhận sự “đồng thuận”

Như đã đề cập, các nhà khoa học có quan điểm khác nhau về vấn đề hoạt động của con người có phải là tác nhân chính gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu không, và khí hậu rốt cuộc sẽ biến đổi đến đâu. Có rất nhiều nhân tố dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau như vậy: Trước hết, biến đổi của khí hậu là một đề tài cực kỳ rộng và phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như thiên văn học, khí tượng học, sinh thái học, quang hóa học, quang phổ học, hải dương học, v.v.. Khí hậu lại bao hàm nhiều phân hệ tương tác với nhau như bầu khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, và thạch quyển của trái đất. Trong đó lại có rất nhiều quá trình vật lý, hóa học, sinh học vẫn còn là những lĩnh vực mà con người hiện nay chưa hiểu hết.

Nhìn lại lịch sử địa chất, khí hậu trên trái đất chưa bao giờ ngừng biến đổi, cũng thường xuyên có những thời kỳ nóng lên toàn cầu. Trong Triều đại nhà Thương của Trung Quốc cách đây hơn 3.000 năm, vùng đất Trung Nguyên (vùng đồng bằng phía Bắc Trung Quốc) từng là vùng cận nhiệt đới. Nhiều ghi chép trong các văn tự Giáp cốt còn nói về việc săn voi. Khi đó, nhiệt độ bình quân năm ước tính cao hơn khoảng 20 C so với ngày nay. Đến Triều đại nhà Đường (626–907) lại trải qua một giai đoạn khí hậu nóng lên nữa, tạo điều kiện thuận lợi để trồng các loại cam quýt ngay trong cung điện Trường An ở vùng Tây Bắc Trung Quốc ngày nay. [1] Ở Phương Tây, người châu Âu thời trung cổ đã xây dựng những nhà thờ lớn tinh tế trong giai đoạn nóng lên từ khoảng năm 950 đến 1250 sau công nguyên. [2]

Theo các ghi chép về địa chất, Bắc bán cầu đã trải qua một đợt nóng lên rất nhanh cách đây khoảng 11,270 năm, chỉ trong vài năm mà nhiệt độ đã nhanh chóng tăng lên khoảng 40 C. Một đợt nóng lên nổi tiếng nữa xảy ra lúc gần kết thúc thời kỳ băng hà mini “Younger Dryas” khoảng 11.550 năm trước, khi nhiệt độ tăng khoảng 100 C chỉ trong vài thập kỷ. [3] Nguyên nhân gây ra những sự biến đổi khí hậu này, cho đến nay, vẫn là đề tài tranh luận của các nhà khoa học.

Hiển nhiên, nếu chúng ta không giải thích được nguyên nhân biến đổi khí hậu trong lịch sử, thì cũng khó mà giải thích được nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu thời hiện đại. Những nguyên nhân lịch sử gây ra biến đổi khí hậu trong quá khứ có thể vẫn đang tác động tới hiện tại. Nhiều nhà khoa học tin rằng chúng ta cần phải ứng xử với vấn đề này bằng sự khiêm tốn và sẵn sàng thừa nhận những hạn chế trong hiểu biết của chúng ta.

Nhà khoa học lỗi lạc Freeman Dyson, viện sỹ của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc Hoa Kỳ, hội viên của Hội Hoàng gia Anh cho rằng khoa học hiện đại chưa lý giải được sự biến đổi khí hậu:

“Điều có vấn đề nhất trong những niềm tin này là quan niệm cho rằng khoa học biến đổi khí hậu đã đạt được sự thống nhất và được nhận thức rõ. Những biến đổi lớn nhất về khí hậu trên trái đất diễn ra vào kỷ băng hà, bao phủ một nửa Bắc Mỹ và châu Âu với những lớp băng dày hàng ki-lô-mét. Kỷ băng hà đã xảy ra nhiều lần trong quá khứ, còn chúng ta mới chỉ đang chuẩn bị bước vào một kỷ băng hà nữa. Một kỷ băng hà mới có thể là một thảm họa lớn hơn rất, rất nhiều so với những gì mà chúng ta lo sợ về hiện tượng nóng lên của khí hậu. Có rất nhiều thuyết về các kỷ băng hà, nhưng chưa có sự hiểu biết nào là thấu đáo. Chừng nào chúng ta còn chưa hiểu được kỷ băng hà thì chúng ta chưa thể hiểu được biến đổi khí hậu.” [4]

Do tính chất phức tạp của vấn đề khí hậu nên không thể tiến hành thí nghiệm và kiểm chứng lý thuyết trong điều kiện giới hạn ở phòng thí nghiệm. Các nhà khoa học nghiên cứu khí hậu học hiện nay cũng chỉ dựa vào các mô hình khí hậu trên máy tính.

Báo cáo của IPCC kết luận con người là tác nhân chính gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu, song bằng chứng chủ chốt mà nó đưa ra để đi đến kết luận này lại lấy từ các mô hình mô phỏng biến đổi khí hậu. Những suy luận về nhiệt độ sẽ tăng lên bao nhiêu vào cuối thế kỷ 21 cũng là kết quả của những mô phỏng đó. Những hệ quả tai hại được dự báo là do biến đổi khí hậu gây ra cũng đều dựa trên sự suy luận từ những mô hình máy tính đó.

Tuy nhiên, các mô hình này đều có những hạn chế riêng, vậy mà nhiều nhà khoa học vẫn bảo lưu thái độ đối với độ tin cậy của chúng. Giáo sư Judith Curry cho rằng những tác nhân tự nhiên không được đưa vào mô hình biến đổi khí hậu lại có vai trò chủ đạo. [5] Trong một bài viết đăng trên “Tập san Hội Khí tượng học Mỹ” (Bulletin of American Meteorology Society), bà chỉ ra rằng IPCC gần như đã lờ đi những yếu tố không chắc chắn của các tính toán trong mô hình. [6]

Có thể do chưa hiểu biết đầy đủ về các quá trình then chốt trong biến đổi khí hậu, hoặc do khả năng xử lý của máy tính chưa hoàn thiện mà các mô hình khí hậu không thể phản ánh được thực tế một cách chân thực. Các nhà nghiên cứu đã vận dụng phương pháp tham số, mà phương pháp này đã đơn giản hóa mô hình khi sử dụng dữ liệu chưa đầy đủ cho các quá trình, chẳng hạn như quá trình hình thành mây (mà trong đó còn có tác động của hơi nước), quá trình tạo mưa, sự tương tác giữa mây và bức xạ mặt trời, các quá trình hóa học và vật lý của khí dung giao (hay aerosol, tức là những hạt nhỏ thể lỏng hoặc rắn trong bầu khí quyển) v.v. [7] Tất cả đều là những yếu tố không chắc chắn cho mô hình này.

Hơi nước là loại khí nhà kính có nhiều nhất, quan trọng nhất trong bầu khí quyển, nhưng vì nó có sự khác biệt lớn ở những thời điểm, địa điểm khác nhau, mà yếu tố không chắc chắn ứng với nó cũng lớn. [8] Ở độ cao khác nhau, hiệu ứng nhà kính của hơi nước cũng khác nhau, trong khi các thước đo mật độ hơi nước của vệ tinh lại theo phương thẳng đứng nên độ dung sai có thể lên đến 40%. [9]

Mây ở các tầng thấp của khí quyển có tác dụng làm lạnh rất mạnh do phản chiếu ánh sáng mặt trời, còn mây ti bán trong suốt ở các tầng cao hơn lại có tác dụng làm ấm. Một số khí dung giao (như vật chất từ một vụ phun trào núi lửa) lại cản ánh nắng và có tác dụng làm lạnh, trong khi một số khác (như thán khí) lại hấp thu bức xạ nhiệt và có tác dụng làm tăng nhiệt độ. Đồng thời, khí dung giao còn có tác dụng hình thành mây, gây hiệu ứng làm lạnh gián tiếp. Sự phân bố khí dung giao và mây theo không gian và khu vực địa lý, cũng như đặc tính quang học của chúng trên hành tinh này cũng có sự khác biệt lớn. Các nhân tố khác, như sự phát triển và chết đi của thực vật trên trái đất, cũng ảnh hưởng đến hiệu ứng albedo (tỷ suất phản chiếu bức xạ mặt trời của trái đất).

Có thể do dữ liệu quan trắc không đầy đủ, hoặc do trước mắt, các nhà khoa học chưa có sự hiểu biết đầy đủ về những quá trình này, nên việc sử dụng các tham số trong mô hình khí hậu có sự tự do (tùy ý) lớn, như vậy càng làm tăng tính không chắc chắn của các mô hình tính toán. Những yếu tố không chắc chắn này khiến người ta hoài nghi tính xác thực của các mô hình. Chẳng hạn, các loại khí nhà kính như khí carbonic (CO2) cho trái đất một lực bức xạ trực tiếp khoảng 2.5W/m2 , [10] trong khi năng lượng bức xạ mặt trời mà trái đất tiếp thụ là khoảng 1.366W/m2 . [11] Sự thay đổi tỷ suất albedo ở mức 2/1.000 này gây ra bởi yếu tố không chắc chắn khi lập mô hình mô phỏng tính bức xạ của mây hay khí dung giao cũng đã vượt xa cái gọi là tác động của khí nhà kính.

Nhà khoa học Willie Soon của Đại học Harvard và các nhà khoa học khác tin rằng các mô hình khí hậu không phù hợp để đưa ra dự báo về sự thay đổi của khí hậu trong tương lai. [12] Nhà vật lý học Dyson của Princeton gọi các tham số trong mô hình là “nhân tố tầm phào” (fudge factor) vì những nhân tố này có thể do con người tùy chỉnh. Ông cho rằng chúng ta có thể học được một số điều từ mô hình, nhưng không thể dùng nó để dự báo: “Như vậy, bạn có một công thức. … Nhưng nếu bạn sử dụng nó cho một loại khí hậu khác, khi bạn có gấp đôi lượng khí carbonic, thì không có gì đảm bảo kết quả cho ra là đúng. Không có cách nào kiểm chứng nó.” [13] Dyson cũng chỉ trích IPCC đã gần như phớt lờ vai trò của mặt trời trong hệ thống khí hậu. Ông cho rằng mặt trời mới là nhân tố chính quyết định sự biến đổi khí hậu, chứ không phải con người.

Bắt đầu từ năm 2002, nhà khoa học người Israel Nir J.Shaviv đã viết loạt bài viết, trong đó lập luận rằng căn cứ vào mối tương quan giữa phạm vi che phủ của mây quan sát được bằng vệ tinh và lượng bức xạ vũ trụ, thì kỷ băng hà xảy ra trên trái đất là có liên quan đến vũ trụ tuyến (cosmic rays). Ông cũng đồng thời cho biết, những thay đổi về bức xạ mặt trời cũng có tác dụng tương tự (nếu không muốn nói là lớn hơn nhiều) so với hoạt động của con người đối với sự tăng nhiệt độ bình quân của toàn trái đất trong thế kỷ 20. Ông cho rằng, khí nhà kính do con người thải ra có tác động rất nhỏ đến hiện tượng nóng lên toàn cầu, nhỏ hơn nhiều so với nhận thức thông thường. [14]

Mặt khác, bản thân khí hậu cũng tồn tại những thay đổi nội tại, điều này vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, từ đó có thể thấy các mô hình khí hậu máy tính không thể phản ánh chính xác những hiện tượng này. Các mô hình khí hậu hiện có không thể mô tả chính xác hiện tượng El nino, chứ chưa nói đến khả năng dự báo. [15] Kể từ khi nhiệt độ cao nhất trong kỷ Holocene cách đây khoảng 7.000-9000 năm, nhiệt độ toàn cầu đã hạ xuống 0.50 C đến 10 C, song các tính toán của mô hình lại cho kết quả tăng từ 0.50 C đến 10 C vào 11.000 năm trước. Thực tế là thành phần carbonic liên tục tăng lên trong 6.000-7.000 năm qua; điều đó cho thấy mô hình này chỉ nhạy cảm với hiệu ứng nóng lên của khí nhà kính. [16] Nói chung, trong các nhân tố có tác động đến sự thay đổi trong hệ thống khí hậu, các mô hình chỉ có thể phán ánh được hiệu ứng nóng lên do khí nhà kính gây ra, nhưng lại không phản ánh được chính xác hiện tượng lạnh đi do các nhân tố khác gây ra.

Ngoài ra, từ năm 1998 đến năm 2013, mức tăng nhiệt độ trong kết quả quan trắc gần như đứng yên. Năm 2013, Hans Von Storch, nhà khoa học khí hậu người Đức, giáo sư của Đại học Hamburg, cho biết: “Chúng ta đang đứng trước một ẩn đố. Lượng khí thải carbonic gần đây trên thực tế tăng cao hơn rất nhiều so với mức tăng mà chúng ta vẫn lo ngại. Do vậy, theo hầu hết các mô hình khí hậu, đáng lẽ chúng ta phải thấy nhiệt độ tăng lên 0,25 độ C (0,45 độ F) trong 10 năm qua. Song tình huống này lại không xảy ra. Trên thực tế, nhiệt độ trong 15 năm qua chỉ tăng có 0,06 độ C (0,11 độ F).” Storch cho rằng điều này cho thấy mô hình đã quá coi trọng tác động của khí carbonic, hoặc đã quá xem nhẹ tác động của những thay đổi tự nhiên đối với khí hậu. [17]

Các nhà khoa học còn có những quan điểm khác nhau về cách xem xét các quá trình nội tại của hệ thống khí hậu. Richard Lindzen của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ như đề cập trên đây cho rằng trong hệ thống khí hậu tồn tại cơ chế tự điều tiết, có thể giảm hiệu ứng nóng lên của khí nhà kính. Trong bài viết công bố năm 2001 của mình, ông đã chỉ ra rằng, căn cứ theo số liệu quan trắc, các đám mây ti ở tầng cao của vùng nhiệt đới (loại mây mà ánh nắng có thể xuyên qua, nhưng lại cản tia hồng ngoại thoát ra từ bề mặt và có hiệu ứng nhà kính) là tỷ lệ nghịch với nhiệt độ mặt nước biển, khi nhiệt độ tăng lên thì độ che phủ của mây lại giảm. Điều này cho phép bề mặt trái đất tản nhiệt ra ngoài bầu khí quyển của trái đất mà không bị cản trở bởi bức xạ hồng ngoại. Cơ chế tự điều tiết này tương tự như đồng tử mắt người (tự điều chỉnh theo độ phơi sáng) và triệt tiêu lượng lớn hiệu ứng nhà kính. [18] Lý luận này của Lindzen hiện vẫn đang được thảo luận.

Nhà cựu khoa học NASA Roy Spencer của Đại học Alabama đã tổng kết kết quả quan trắc bằng vệ tinh, đề xuất kiến giải khác về vai trò của độ che phủ của mây trong mô hình khí hậu. Ông chỉ ra rằng mô hình khí hậu hiện tại coi việc hình thành và tiêu tán của mây quan sát được là do tác động của nhiệt độ, nhưng thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Chính sự thay đổi lượng mây đã làm thay đổi nhiệt độ, từ đó, có thể kết luận rằng hiệu ứng của khí nhà kính đối với sự nóng lên nhỏ hơn rất nhiều so với dự báo của các mô hình khí hậu hiện có. [19]

Các nhà khoa học có quan điểm khác nhau về cách luận giải dữ liệu khí tượng quan trắc được, cũng như độ tin cậy của dữ liệu. Tiến sỹ John Christy, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hệ thống Khoa học Trái đất của Đại học Alabama, là một trong những tác giả hàng đầu của IPCC. Ông đã phân tích quá trình mở rộng đô thị và khai phá đất đai (như hoạt động nông nghiệp) đã gây xáo trộn như thế nào đối với lớp khí bề mặt (lớp biên khí quyển) ở khu vực đô thị gần đài quan trắc khí tượng. Việc gia tăng hoạt động của con người được cho là nguyên nhân khiến nhiệt độ mặt đất tăng lên.

Các ghi chép trong 100 năm qua đã cho thấy hiện tượng tăng nhiệt độ ở mặt đất, nhiệt độ thấp nhất vào ban đêm tăng nhanh hơn nhiệt độ cao nhất vào ban ngày. Christy cho rằng việc mở rộng phạm vi hoạt động của con người trên mặt đất mới giải thích được hiện tượng này, chứ không phải là do khí nhà kính tăng lên. [20]

Ngoài ra, các nhà khoa học cũng tranh luận về các hiệu ứng sinh ra do khí hậu nóng lên. Chẳng hạn, năm 2014, David Russell Legates, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khí hậu của Đại học Delaware xác nhận tại Thượng nghị viện Hoa Kỳ rằng: “Kết luận khái quát của tôi là trong những thời kỳ lạnh giá, hạn hán ở Hoa Kỳ xảy ra thường xuyên và khắc nghiệt hơn. Do vậy, ghi chép lịch sử không ủng hộ tuyên bố rằng nóng lên toàn cầu sẽ ảnh hưởng xấu đến các hoạt động nông nghiệp.” [21]

William Happer, nguyên Phó Hiệu trưởng của Đại học Princeton từng chứng nhận tại Thượng nghị viện Hoa Kỳ rằng mức carbonic hiện nay là thấp nhất trong lịch sử, và nếu có lượng carbonic cao hơn thì sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho thực vật cũng như canh tác nông nghiệp — thực tế này đã bị IPCC lờ đi. Happer là người sáng lập mô hình khí hậu khi ông còn quản lý Văn phòng Nghiên cứu Năng lượng của Bộ Năng lượng vào những năm 1990. Ông cho rằng mức tăng nhiệt độ theo dự báo của các mô hình khí hậu hiện tại cao hơn nhiều so với mức tăng nhiệt độ quan trắc được, bởi vì mô hình này chú trọng quá nhiều vào tính dễ bốc hơi của hệ thống khí hậu. [22]

2.4 Vì sao các nhà khoa học chủ nghĩa bảo vệ môi trường đẩy mạnh tuyên truyền về thảm họa

Một nhà khoa học chủ chốt của IPCC từng nói: “Nếu muốn có một chính sách môi trường tốt trong tương lai, thì chúng ta sẽ phải có thảm họa. Cũng giống như an toàn giao thông công cộng thôi. Cách duy nhất khiến nhân loại hành động là khiến họ thấy nguy cơ gặp tai họa.” [23] Mặc dù sau đó, ông ta thanh minh rằng ông ta không chủ trương làm giả số liệu, nhưng thông điệp của ông ta rất rõ ràng: Thảm họa là động cơ chính dẫn đến hành động và hoạch định chính sách.

Liên hệ hiện tượng nóng lên toàn cầu với các loại hiện tượng thời tiết cực đoan đã trở thành một phương pháp phổ biến để phóng đại tính nghiêm trọng của vấn đề. Các giả thuyết khoa học phù hợp với trào lưu phổ biến này cũng liên tục xuất hiện.

Đầu năm 2014, Bắc Mỹ đã trải qua đợt rét cực đoan. Một thuyết suy đoán nguyên nhân gây ra mùa đông khắc nghiệt này là do hiện tượng ấm lên toàn cầu làm tan băng ở Bắc Cực, khiến đảo hướng của luồng khí quyển hẹp (jet stream). Vì thế mà khối khí cực lạnh từ Bắc Cực di chuyển về phía Nam, sinh ra thời tiết lạnh thường xuyên tiến về phía Nam. Giả thuyết lạ thường này nhận được sự ủng hộ của giới truyền thông và các nhà chủ nghĩa bảo vệ môi trường: Ngay cả thời tiết lạnh cực đoan cũng do sự nóng lên toàn cầu gây ra. Thực tế là, các ghi chép khí tượng học trong thời gian dài lại cho thấy những đợt rét cực đoan ở Bắc Mỹ đã ít đi, chứ không phải là nhiều lên.

Năm 2014, năm chuyên gia khí tượng kiệt xuất đã công bố một bức thư chung đăng trên tạp chí Science để làm sáng tỏ thực tế này. Họ chỉ ra rằng vào đầu những năm 1960, cuối những năm 1970 (đặc biệt là năm 1977), và năm 1983, khi lớp băng ở Bắc Cực còn dày hơn và rộng hơn nhiều so với hiện nay, nhưng thời tiết lạnh còn khắc nghiệt hơn mùa đông năm 2014. Điều có thể nói chắc chắn là, trong 50 đến 100 năm qua, những đợt rét cực đoan đã ít đi. [24]

John Wallace, giáo sư khoa học khí quyển chỉ ra rằng: “Việc xác lập mối liên hệ giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu không dễ như người ta tưởng. Suy luận từ số liệu thống kê chính xác đến đâu phụ thuộc vào quy mô của đối tượng mẫu (sample size). … Ngay cả khi các số liệu thống kê này có sự liên quan rõ ràng, như trong trường hợp các đợt nóng, nếu đợt nóng càng cực đoan thì tác động của sự nóng lên toàn cầu đối với các hiện tượng bất thường quan sát được lại càng nhỏ. Nếu như chúng ta hiểu rõ cơ chế liên hệ giữa hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu thì những hạn chế của quy mô đối tượng mẫu cũng không phải là vấn đề quá lớn. Đáng tiếc là chúng ta lại chưa có được sự hiểu biết đó.” [25]

Tháng 11/2017, Steven Koonin, nguyên Thứ trưởng phụ trách Khoa học của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, đã đăng một bài bình luận có tựa đề “Một báo cáo dối trá mới về khí hậu” (A Deceptive New Report on Climate) trên tạp chí The Wall Street Journal. Ông phê bình “Báo cáo Đặc biệt về Khoa học Khí hậu” (Climate Science Special Report) của Chính phủ Mỹ đã khiến tâm lý lo sợ thảm họa càng lớn khi lý giải lệch lạc về hiện tượng mực nước biển dâng cao. [26]

“Báo cáo Đặc biệt về Khoa học Khí hậu” chỉ ra rằng, từ năm 1993 đến nay, mực nước biển dâng lên với tốc độ gấp đôi so với những năm trước của thế kỷ 20. Song báo cáo này đã lờ đi thực tế rằng tốc độ mực nước biển dâng lên những năm gần đây là tương đương với đầu thế kỷ 20, mà ảnh hưởng của hoạt động của con người thời đó đối với môi trường là rất nhỏ. Bỏ qua điều này rất dễ gây hiểu sai. Mục tóm tắt khái quát của báo cáo này cho biết, từ giữa những năm 1960 đến nay, các đợt nóng ở Mỹ đã xuất hiện thường xuyên hơn. Tuy nhiên, những số liệu không được đưa vào báo cáo này lại cho thấy các đợt nóng hiện nay chẳng khác mấy so với những đợt nóng vào những năm 1900.

Thủ thuật này cũng xuất hiện trong báo cáo Đánh giá Khí hậu Quốc gia năm 2004 của chính phủ Mỹ, trong đó nhấn mạnh vào cường độ bão ngày một mạnh sau năm 1980, nhưng lại bỏ qua những ghi chép qua các giai đoạn dài hơn. Cục Quản lý Khí quyển và Hải dương Quốc gia (NOAA) của Mỹ gần đây cho biết họ không tìm được bằng chứng nào cho thấy hoạt động của con người có tác động đến mức độ khốc liệt của bão. [27]

Thực ra, những đợt nóng xuất hiện thường xuyên nhất là vào những năm 1930, chứ không phải trong thế kỷ 21. Chỉ số đợt nóng của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ cho thấy trong những năm 1930, có bốn năm có chỉ số đợt nóng ở mức 0.45, trong khi với năm nóng nhất của thế kỷ 21 cho đến nay, chỉ số này mới chỉ ở mức khoảng 0.3. [28] Thế nhưng, lượng khí thải nhà kính trong những năm 1930 mới chỉ bằng 10% lượng khí thải nhà kính của thế kỷ 21. [29]

Giáo sư Mike Hulme, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu Tyndall của Vương quốc Anh, cho biết: “Mấy năm qua, ở đất nước này đã xuất hiện một hiện tượng môi trường mới –– thảm họa biến đổi khí hậu. Có vẻ như nói “biến đổi khí hậu” thôi thì chưa đủ để thể hiện tính gay go, nên giờ phải thêm từ “thảm họa” vào để thu hút nhiều sự chú ý hơn. … Tại sao không chỉ là những người vận động bảo vệ môi trường, mà cả các chính trị gia và khoa học gia cũng công khai dùng những từ ngữ như hoang mang, khủng bố và thảm họa cho thực tế quan sát được rành rành về biến đổi khí hậu, mà cố tình lờ đi những lý giải tỉ mỉ xung quanh các dự đoán khoa học?” [30]

Nhà khoa học quá cố Stephen H.Schneider, từng là người ủng hộ giáo điều “đồng thuận” về thuyết khí hậu, từng là tác giả điều phối chính trong Tổ Công tác II phụ trách Báo cáo Đánh giá Thứ ba của Hội đồng Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Trong cuộc phỏng vấn năm 1989 với tạp chí Discover, ông cho biết: “Một mặt, là các nhà khoa học, chúng ta có nghĩa vụ đạo đức phải đi theo phương pháp khoa học. Mặt khác, chúng ta không chỉ là nhà khoa học, mà cũng là con người. Để làm được điều đó, chúng ta cần có sự ủng hộ rộng rãi để nắm bắt được trí tưởng tượng của công chúng. Đương nhiên, điều đó có nghĩa là phải có độ phủ lớn trên truyền thông. Vậy nên, chúng ta cần đưa ra những tình huống đáng sợ, những tuyên bố giản lược mà kịch tính, ít đề cập đến những nghi ngại mà chúng ta có thể có.” Ông cho rằng các nhà khoa học phải lựa chọn giữa “hiệu quả” và “trung thực”, mặc dù ông ta cũng nói rằng ông hy vọng có thể vẹn cả đôi đường. [31]

Có rất nhiều giả thuyết về khủng hoảng khí hậu. Đằng sau đó là những thế lực tà ác không chỉ muốn mở đường cho việc xây dựng một chính phủ toàn cầu, mà còn phá hoại đạo đức trong hoạt động nghiên cứu của giới khoa học. Khí hậu học là ngành non trẻ, mới có mấy chục năm lịch sử. Vậy mà những giả thuyết về nóng lên toàn cầu lại vội vã được coi là thực tế. Truyền thông thường đưa nóng lên toàn cầu vào các tít báo để che đậy những khiếm khuyết dưới cái mác khoa học. Các chính phủ đổ tiền vào nghiên cứu các giả thuyết nóng lên toàn cầu, trong khi lại gạt những phát hiện khác ra ngoài lề. Trong quá trình xác lập và củng cố giáo điều “đồng thuận”, chủ nghĩa cộng sản đã bộc lộ bản chất đấu tranh và thù hận của nó.

Trong khi các nhà khoa học xây dựng sự “đồng thuận” thì giới truyền thông và các chính trị gia gọi sự “đồng thuận” về thảm họa biến đổi khí hậu là “đã được khoa học chứng minh” và đem phổ biến ra khắp thế giới như một thứ học thuyết không được phép công kích. Lối tư duy về vấn đề này đã được thống nhất rộng rãi và đã gieo vào trong tâm con người những quan niệm đảo lộn giữa tốt và xấu.

Như đã đề cập trên đây, việc bác bỏ những tội ác của chủ nghĩa khủng bố sinh thái do Greenpeace ở Anh gây ra chính là dựa trên cái gọi là sự đồng thuận rằng khí thải nhà kính đang gây ra một thảm họa khí hậu. Không biết bao nhiêu quy định và chính sách dựa trên giáo điều này đang đẩy thế giới vào chỗ hỗn loạn. Hủy hoại “thế giới cũ” bằng mọi giá là sách lược căn bản của chủ nghĩa cộng sản. Những phương kế này đều là nhằm để đặt nền móng cho một giải pháp giả – đó là, xây dựng một chính phủ toàn cầu – để xử lý một cuộc khủng hoảng được thêu dệt nên với mục tiêu cứu lấy trái đất và nhân loại.

3. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường: Một hình thái khác của chủ nghĩa cộng sản

Mấy chục năm qua, khi thế lực cộng sản thu mình ở ẩn, và khi các vấn đề về kinh tế, chính trị của các chính quyền cộng sản bị lộ ra, chủ nghĩa cộng sản đã bám cứng vào chủ nghĩa bảo vệ môi trường để tiếp tục thực hiện âm mưu của nó.

3.1 Thâm nhập chính trị: Xây dựng một chính phủ toàn cầu

Một thủ đoạn quan trọng mà chủ nghĩa cộng sản dùng để nắm quyền kiểm soát là dùng chính phủ để tước đoạt tự do và tài sản của con người, không ngừng bành trướng quyền lực của nhà nước. Điều này rất khó để thực hiện ở các quốc gia dân chủ phương Tây. Song, chủ nghĩa bảo vệ môi trường lại cho chủ nghĩa cộng sản một thứ vũ khí ma thuật, khiến con người chấp nhận bị tước đoạt đi quyền lợi của mình dưới danh nghĩa “bảo vệ môi trường”.

Thứ nhất, lợi dụng hình thái ý thức chủ nghĩa bảo vệ môi trường để phân phối lại tài sản. Các quốc gia cộng sản vốn thường dùng cách mạng để cưỡng chế phân phối lại tài sản. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngày càng khó để có tiến hành theo cách này. Vì thế, những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường đã chọn dùng sách lược đường vòng, dùng danh nghĩa phòng tránh thảm họa môi trường toàn cầu khiến cho mọi người chủ động vứt bỏ tài sản tư hữu và tự do cá nhân. Một nhà tổ chức chiến dịch của nhóm Friends of the Earth (Những người bạn của Trái đất) tuyên bố “Hạt nhân của sách lược ứng phó với biến đổi khí hậu cần phải là tái phân phối tài nguyên và tài sản.” [32] Một nhà tư tưởng bảo vệ môi trường nổi tiếng của Đại học Westminster từng phát biểu với một phóng viên rằng việc hạn chế lượng carbon “phải áp cho mọi người, cho dù họ có muốn hay không”, và rằng “mục tiêu dân chủ cũng không quan trọng bằng việc bảo vệ hành tinh này để các sinh vật trên hành tinh tránh khỏi bị diệt vong, kết thúc sự sống nơi đây.” [33]

Trong “trận chiến” chống biến đổi khí hậu, Anh là nước đầu tiên đề xuất khái niệm “phiếu định mức carbon cá nhân”. Một nhà khoa học người Anh xem đây là “giới thiệu một loại tiền tệ thứ hai, trong đó, mỗi người đều có định mức như nhau – khiến người ta phải mua lại tín dụng carbon từ người nghèo hơn để phân phối lại tài sản.” [34]

Những người từng sống tại Liên-Xô hay Trung Quốc dưới chế độ cộng sản có thể dễ dàng nhìn ra kiểu chia định mức carbon này là một phương thức khác để thiết lập chế độ cực quyền. Ở Trung Quốc đã có thời sử dụng tem phiếu lương thực để mua đồ thiết yếu như dầu ăn, ngũ cốc, vải… Loại phương thức này một mặt là phân phối lại tài sản, mặt khác đã ban cho chính phủ trung ương quyền kiểm soát tối cao đối với tài sản và quyền tự do.

Thứ hai, lợi dụng hình thái ý thức chủ nghĩa bảo vệ môi trường để hạn chế tự do cá nhân. Các nước phương Tây vốn tự hào vì có truyền thống tự do cá nhân, muốn khiến con người chủ động từ bỏ quyền tự do cá nhân, tiếp nhận rất nhiều hạn chế trong sinh hoạt cá nhân thì quả thực rất khó. Vì thế, tưởng tượng ra một thảm họa môi trường đã trở thành một phương tiện hữu hiệu để khiến mọi người từ bỏ tự do và quyền lợi. “Nóng lên toàn cầu” và “ngày tận thế của trái đất” liền trở thành khẩu hiệu tốt nhất của những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Liên minh Ý thức Carbon (Carbon Sense Coalition) có trụ sở tại Úc đã tổng hợp một danh sách các đề xuất dùng luật của nước này để cưỡng chế người dân điều chỉnh hành vi trên danh nghĩa giải quyết vấn đề nóng lên toàn cầu:

  • Cấm dùng bếp lò và lò sưởi
  • Cấm dùng đèn sợi đốt
  • Cấm dùng nước đóng chai
  • Cấm xe riêng ở một số nơi
  • Cấm TV plasma
  • Cấm xây dựng sân bay mới
  • Cấm mở rộng sân bay hiện có
  • Cấm để thiết bị điện ở chế độ chờ
  • Cấm phát điện bằng đốt than đá
  • Cấm hệ thống nước nóng chạy bằng điện
  • Cấm lái xe đi hưởng kỳ nghỉ
  • Cấm kỳ nghỉ cuối tuần kéo dài ba ngày
  • Thu thuế sinh con
  • Thu thuế xe ô tô loại lớn
  • Thu thuế bãi đỗ xe ở siêu thị
  • Thu thuế rác thải
  • Thu thế từ nhà ở thứ hai trở đi
  • Thu thế từ xe ô tô thứ hai trở đi
  • Thu thuế chuyến bay vào kỳ nghỉ
  • Thu thuế điện để trợ cấp cho điện năng lượng mặt trời
  • Thu thuế các cửa hàng trưng bày ô tô loại lớn
  • Thu thuế sinh thái đối với ô tô vào thành phố
  • Yêu cầu giấy phép lái xe riêng ra khỏi phạm vi thành phố
  • Hạn chế lựa chọn về thiết bị điện
  • Ban hành tín dụng carbon cho mỗi cá nhân
  • Quy định tiêu chuẩn hiệu suất nhiên liệu
  • Nghiên cứu phương thức giảm thiểu lượng khí metan do nai sừng tấm na uy thải ra
  • Bỏ vạch trắng kẻ trên đường để người lái xe đi cẩn thận hơn. [35]

Thứ ba, lợi dụng hình thái ý thức chủ nghĩa bảo vệ môi trường để khuếch đại quy mô và quyền hạn của chính phủ. Các quốc gia phương Tây không những có các cơ quan bảo vệ môi trường khổng lồ, mà còn lợi dụng cái cớ bảo vệ môi trường để thiết lập các cơ quan mới trong chính phủ, mở rộng quyền hạn của các cơ quan hiện hành. Cơ quan nào cũng có khuynh hướng duy trì và mở rộng bản thân, các cơ quan bảo vệ môi trường này cũng không ngoại lệ. Họ lạm dụng quyền lực trong tay để phát tán luận điệu thảm họa môi trường ra công chúng để có thêm nhiều kinh phí hành chính hơn và để củng cố vị trí của bản thân trong cơ cấu chính phủ. Người trả tiền cuối cùng lại chính là người nộp thuế.

Thành phố San Francisco, Mỹ đã dựng lên một vị trí quản lý khí hậu của thành phố với mức lương 160.000 USD/năm. Một trong những khu nghèo nhất của London là Tower Hamlets có tới 58 vị trí biên chế liên quan đến biến đổi khí hậu. [36] Điều này hết sức giống với cơ chế các trường đại học và các công ty thuê người cho vị trí cán bộ phụ trách “đa nguyên hóa”.

Thứ tư, lợi dụng chủ nghĩa bảo vệ môi trường để ám chỉ chế độ dân chủ đã lỗi thời và thúc đẩy việc kiến lập một chính phủ cực quyền đa quốc gia, thậm chí là toàn cầu. Những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường tuyên bố chế độ dân chủ không thể ứng phó với cuộc khủng hoảng môi trường sắp tới, mà để khắc phục những khó khăn sắp tới, chúng ta phải tiếp nhận các hình thái chính phủ cực quyền hoặc độc tài, hoặc tối thiểu là một số phương diện của những hình thái đó. [37]

Tác giả Janet Biehl đã tổng kết chính xác loại tâm thái này như sau: “Khủng hoảng sinh thái chỉ có thể được giải quyết thông qua các biện pháp cực quyền”, và “một dạng ‘độc tài sinh thái’ là cần thiết”, [38] với lý do hiển nhiên là không một xã hội tự do nào tự nguyện thực hiện những gì mà “nghị trình xanh” yêu cầu.

Paul Ehrlich, một trong những người sáng lập chủ nghĩa bảo vệ môi trường, đã viết trong cuốn sách “Làm sao để sống sót – Kế hoạch giải cứu phi thuyền vũ trụ Trái Đất” (How to Be a Survivor: A Plan to Save Spaceship Earth) như sau:

(1) Các quốc gia phát triển cao và quốc gia kém phát triển đều phải có biện pháp kiểm soát dân số;

(2) Các quốc gia phát triển cao cần phải phát triển chậm lại;

(3) Các quốc gia kém phát triển cần phải trở thành bán phát triển;

(4) Phải xây dựng quy trình giám sát và điều tiết hệ thống thế giới để có thể liên tục duy trì trạng thái cân bằng tối ưu giữa dân số, tài nguyên và môi trường. [39]

Trên thực tế, ngoại trừ một chính phủ cực quyền toàn cầu, bất cứ chính phủ hay tổ chức nào cũng không thể có được quyền lực lớn đến vậy. Thực ra, điều này cũng bằng như lợi dụng danh nghĩa bảo vệ môi trường để cổ xúy cho việc kiến lập một chính phủ cực quyền toàn cầu.

Cuối cùng, các chương trình bảo vệ môi trường thể hiện rằng chế độ cộng sản là ưu việt và ca tụng chế độ cực quyền cộng sản. Do dân số gia tăng sẽ dẫn đến sử dụng càng nhiều tài nguyên, thải ra càng nhiều carbon và rác thải, nên những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường cổ xúy kiểm soát dân số, thậm chí là giảm dân số. Vì thế chính sách kế hoạch hóa gia đình của ĐCSTQ đã được những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường phương Tây quảng bá.

Theo một báo cáo của Reuters, vì chính sách một con được thực thi từ đầu những năm 1980, nên chính quyền ĐCSTQ đã khống chế được dân số ở mức 1,3 tỷ; giả sử không có chính sách này thì dân số Trung Quốc có thể lên đến 1,6 tỷ người. Tác giả bài báo cho rằng chính sách của ĐCSTQ có tác dụng giảm lượng carbon trên toàn cầu. Song, bài báo này lại lờ đi việc hàng trăm triệu sinh linh bé bỏng đã bị giết và nỗi đau khó nguôi ngoai của gia đình của chúng.

Một trong những vấn đề lớn nhất tác động đến môi trường là ô nhiễm môi trường, trong đó có ô nhiễm không khí, và ô nhiễm nguồn nước. Mô hình kinh tế của ĐCSTQ tiêu thụ năng lượng ở mức cực lớn, khiến Trung Quốc trở thành đất nước ô nhiễm nhất trên thế giới, với tình trạng ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước ở các thành phố lớn là tồi tệ nhất. Phần lớn sông ngòi ở Trung Quốc không còn an toàn để uống được nữa. Bão cát từ Trung Quốc đã vượt biển bay sang Hàn Quốc, Nhật Bản, thậm chí vượt cả Thái Bình Dương sang Bờ Tây Hoa Kỳ.

Theo logic, các nhà bảo vệ môi trường chân chính đãng lẽ phải coi Trung Quốc là đối tượng chính mà chỉ trích, nhưng kỳ lạ thay, nhiều người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường lại tán tụng ĐCSTQ, thậm chí còn xem nó là hy vọng cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Trang tin tức điện tử của Đảng Cộng sản Mỹ, có tên “Thế giới của Nhân dân” (People’s World), đăng tin dày đặc về môi trường. Luận điệu chính của các bài báo của nó là chính sách môi trường của chính quyền Tổng thống Trump sẽ hủy hoại nước Mỹ, thậm chí là toàn thế giới, còn ĐCSTQ là vị cứu tinh! [40]

Nguyên Tổng thống Czech Václav Klaus, một nhà kinh tế học, đã chỉ ra trong cuốn sách “Hành tinh xanh [blue] trong cái cùm xanh [green]: Đâu mới là điều đang bị đe dọa: Khí hậu hay tự do?” (Blue Planet in Green Shackles: What Is Endangered: Climate or Freedom?): “Chủ nghĩa bảo vệ môi trường là một phong trào nhằm triệt để thay đổi thế giới bất chấp hậu quả (thậm chí có thể đánh đổi bằng sinh mạng của con người và những hạn chế hà khắc đối với tự do cá nhân). Mưu đồ của nó là muốn thay đổi nhân loại, hành vi của con người, kết cấu xã hội, hệ thống giá trị –– tóm lại là tất cả mọi thứ!” [41]

Klaus cho rằng, thái độ của những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường đối với tự nhiên rất tương đồng với phương pháp tiếp cận kinh tế của những người theo chủ nghĩa Marx: “Cả hai đều nhằm mục đích thay thế sự phát triển tự do và tự nhiên của thế giới (và nhân loại) bằng cái gọi là kế hoạch hóa tập trung, tối ưu, hay – dùng từ mang tính thời thượng hiện nay là – hoạch định toàn cầu cho sự phát triển của thế giới. Cũng giống như chủ nghĩa cộng sản, phương pháp tiếp cận này là điều không tưởng (utopia) và sẽ dẫn đến kết cục hoàn toàn khác với mục tiêu đề ra ban đầu. Cũng như những thứ không tưởng khác, điều không tưởng này không bao giờ có thể thành hiện thực, những nỗ lực để hiện thực hóa nó chỉ có thể đạt được bằng cách hạn chế quyền tự do, bằng mệnh lệnh của một nhóm thiểu số có đặc quyền đối với đa số đại chúng.” [42]

“Hình thái ý thức này rao giảng về trái đất và tự nhiên, lấy khẩu hiệu bảo vệ trái đất và tự nhiên – tương tự như những người theo chủ nghĩa Marx cũ – mưu đồ thay thế tiến trình phát triển tự do và tự phát của nhân loại bằng kế hoạch hóa tập trung (nay gọi là toàn cầu) đối với toàn thế giới.” [43]

Vì những lý do này, Klaus kiên quyết phản đối những mưu đồ lợi dụng công cuộc bảo vệ môi trường hòng xây dựng một đại chính phủ quốc gia hay chính phủ toàn cầu để nô dịch đại chúng.

3.2 Đổ tội cho chủ nghĩa tư bản

Một trong những mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản là lật đổ chủ nghĩa tư bản. Còn chủ nghĩa bảo vệ môi trường lại coi chủ nghĩa tư bản là thiên địch phá hoại môi trường, vì thế chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa bảo vệ môi trường đã có chung một kẻ địch –– chủ nghĩa tư bản. Vì thế, sau khi phong trào công nhân của chủ nghĩa cộng sản ở các quốc gia phát triển phương Tây gặp khó khăn, nó liền chuyển sang lá cờ chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Công cuộc vận động bảo vệ môi trường bình thường biến thành cuộc vận động đánh bại chủ nghĩa tư bản.

Lý luận của chủ nghĩa cộng sản ban đầu đã vẽ ra một xã hội không tưởng (utopia), một “thiên đường nhân gian”, nhằm kích động nổi dậy, lật đổ chế độ xã hội hiện tại. Chủ nghĩa cộng sản cũng dùng thủ pháp tương tự, lấy chủ nghĩa bảo vệ môi trường làm bình phong, nhưng viễn cảnh mà nó vẽ ra lại hoàn toàn ngược lại: không phải là một utopia tươi đẹp dành cho công nhân, mà là một distopia đáng sợ, một viễn cảnh về một “địa ngục trần gian”. Theo tình huống này, sau 100 năm nữa, do hiện tượng nóng lên toàn cầu, đâu đâu cũng có núi lở, hạn hán, sóng thần, lũ lụt, nóng bức, thì ngay cả nhân loại cũng phải đối mặt với nguy cơ sống còn.

Thành phần mục tiêu mà phong trào này chiêu mộ không phải là người nghèo, mà là những người giàu muốn giũ bỏ lối sống vốn có. Nhưng ai sẽ tự nguyện thay đổi cuộc sống thoải mái hay thói quen sinh hoạt đây? Cần phải có sự can thiệp của chính phủ. Một chính phủ thì đương nhiên không đủ sức, nên phải dựa vào Liên Hợp Quốc, nói cách khác là một chính phủ toàn cầu. Nếu như vậy vẫn chưa đủ để khơi dậy phong trào thì tuyên truyền mạnh hơn về cuộc khủng hoảng sinh thái sắp xảy ra, dấy lên nỗi sợ, hoang mang đủ mức để tác động đến dân chúng và chính phủ, khiến chính phủ phải cưỡng chế thực thi chính sách bảo vệ môi trường, từ đó đạt được mục đích tiêu diệt chủ nghĩa tư bản và thực hành chủ nghĩa cộng sản.

Theo lý luận ban đầu của chủ nghĩa cộng sản, sau khi đoạt được chính quyền, đầu tiên phải cướp đoạt tài sản của người giàu dưới danh nghĩa tái phân phối tài sản cho người nghèo. Thực chất, người nghèo vẫn là người nghèo, còn tài sản đều nằm trong tay tham quan. Bước thứ hai là thiết lập nền kinh tế quốc doanh, xóa bỏ chế độ tư hữu. Điều đó sẽ hủy hoại nền kinh tế quốc dân, đẩy dân chúng vào cảnh lầm than.

Chúng ta hãy xem xét mục tiêu của chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Thứ nhất, nó kêu gọi các nước giàu viện trợ cho các nước nghèo – tức là phân phối lại tài sản trên quy mô toàn cầu. Thực chất, nước nghèo vẫn nghèo, bởi số tiền viện trợ để giúp phát triển nước nghèo thường đều rơi vào tay quan chức tham nhũng của nó.

Thứ hai, chủ nghĩa bảo vệ môi trường chủ trương mở rộng chính phủ, thay thế cơ chế thị trường bằng nền kinh tế theo yêu cầu, dùng đủ loại chính sách bảo vệ môi trường hà khắc để kìm hãm hoạt động bình thường của chủ nghĩa tư bản, cưỡng chế nhà máy đóng cửa hoặc phải chuyển ra nước ngoài, khiến kinh tế trong nước suy kiệt. Bằng những phương thức nhắm vào thị trường này, chủ nghĩa bảo vệ môi trường muốn làm tê liệt chủ nghĩa tư bản. Về mặt này, chủ nghĩa bảo vệ môi trường quả thực rất giống với lý luận của chủ nghĩa cộng sản cổ điển. Nói thẳng ra là, chủ nghĩa bảo vệ môi trường chính là chủ nghĩa cộng sản với bộ mặt khác và là thứ tàn phá thế giới.

Trọng điểm của chủ nghĩa bảo vệ môi trường là gieo rắc nỗi sợ về thảm họa tương lai, dùng sự sợ hãi ấy để biến chính phủ và người dân thành con tin. Trong những người dốc sức tuyên truyền loại khủng hoảng tận thế này, nhiều người sống cuộc sống xa xỉ, tiêu tốn nhiều năng lượng và thải ra rất nhiều carbon. Có thể thấy tự bản thân họ cũng không cho rằng đại nạn sắp xảy ra.

Để lợi dụng tâm lý khủng hoảng, đặc biệt bằng cách lợi dụng “kẻ địch chung” là sự “nóng lên toàn cầu” để tập hợp các thế lực phản đối chủ nghĩa tư bản, những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường tất phải nhấn mạnh và thổi phồng bản chất của cái gọi là khủng hoảng.

Cách đơn giản nhất là tạo ra nỗi sợ cực lớn trên diện rộng đối với các nguồn năng lượng rẻ nhất –– các loại nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, than đá, khí đốt, và cả năng lượng hạt nhân. Từ hàng chục năm trước, các nhà bảo vệ môi trường đã thành công khi khiến con người sợ năng lượng hạt nhân, đến nay, họ lại tìm cách khiến con người sợ dùng nhiên liệu hóa thạch khi tuyên bố rằng nhiên liệu hóa thạch sẽ gây ra thảm họa nóng lên toàn cầu.

Các quy định bảo vệ môi trường hà khắc trở thành thủ đoạn quan trọng để chống lại chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là các nền kinh tế tư bản, và đã trở thành “sát thủ việc làm”. Các chương trình cổ động bảo vệ môi trường, kế hoạch năng lượng sạch, quy định mới về nhà máy điện, luật giao thông nghiêm ngặt hơn, Thỏa thuận Chung Paris, v.v., đều được thúc đẩy trên danh nghĩa ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu.

Tuy nhiên, trên thực tế, khoa học khí hậu vẫn chưa thể kết luận con người là tác nhân chủ yếu của sự nóng lên toàn cầu, hay nóng lên toàn cầu nhất định sẽ dẫn đến thảm họa. Nếu các nguyên nhân tự nhiên mới là tác nhân dẫn đến biến đổi khí hậu, thì tất cả những chính sách chính phủ này chỉ gây trở ngại cho việc phát triển kinh tế, chứ không có chút lợi ích nào đối với con người.

Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa bảo vệ môi trường, người ta mù quáng dựng lên những định mức về khí thải xe hơi và cấm nhiều loại chất và hóa chất mà không dựa trên cơ sở khoa học nào. Như vậy sẽ làm tăng chi phí sản xuất và giảm lợi nhuận, hệ quả là tỷ lệ thất nghiệp càng tăng cao và phải dịch chuyển việc làm sang các nước đang phát triển để hạ thấp chi phí sản xuất. Ngay cả những người ủng hộ chủ nghĩa bảo vệ môi trường cũng phải thừa nhận rằng nếu đến năm 2025 có thể tăng hiệu suất nhiên liệu của tất cả xe hơi lên mức 54.5 dặm/gallon (87.71km/gallon) thì tối đa cũng chỉ có thể khiến biên độ tăng nhiệt độ của khí hậu giảm bớt 0.02°C vào năm 2100, [44] Như vậy thì gần như không có tác dụng gì trong việc giảm hiệu ứng nhà kính. Trong khi đó, các loại hạn chế chưa có cơ sở rõ ràng lại khiến hàng triệu công nhân bị mất việc, gây thiệt hại nặng nề cho các ngành công nghiệp chế tạo, các cơ sở nghiên cứu, năng lượng mới, và năng lực cạnh tranh quốc tế của các quốc gia phương Tây.

Về cơ bản, những ngành công nghiệp xuất phát từ nhu cầu bảo vệ môi trường đều được chính phủ trợ cấp, chứ không đi theo nhu cầu thị trường. Trong tình trạng nghiên cứu còn chưa đạt được sự đột phá thực sự nào mà đã đưa sản phẩm vào sản xuất hàng loạt thì hết sức không thiết thực. Các công ty “xanh” này rất khó tồn tại, càng không nói đến khả năng thu hút thị trường việc làm. Với bối cảnh toàn cầu hóa, nhiều công ty đã dịch chuyển ra nước ngoài, vì thế mà gây tổn thất cho đất nước của chính mình.

Những người vận động bảo vệ môi trường nhiệt tình ủng hộ năng lượng xanh, dấy lên một cuộc đại nhảy vọt về phát điện năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Đáng tiếc là, tình trạng ô nhiễm trong quá trình tạo ra năng lượng xanh lại bị coi nhẹ hoặc che giấu. Sản phẩm phụ silic clorua hóa trị 4 (SiCl4) sinh ra trong quá trình sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời là một loại chất cực độc. Một bài báo của Washington Post dẫn lời của Ren Bingyan, một giáo sự của Khoa Khoa học Vật liệu thuộc Đại học Công nghiệp Hà Bắc: “Vùng đất mà người ta đổ hay chôn những chất thải này sẽ bị cằn cỗi. Cây cỏ không thể sinh trưởng được nơi đó. … Nó giống như thuốc nổ –– độc hại, gây ô nhiễm. Con người vĩnh viễn không thể xử lý được nó”. [45]

Quá trình chế tạo pin năng lượng mặt trời cũng tiêu hao lượng lớn năng lượng thông thường, như than đá và dầu mỏ, như vậy cũng gây ô nhiễm. Công bằng mà nói, năng lượng xanh trong những trường hợp như thế càng khiến trái đất không xanh mà lại ô nhiễm hơn.

Theo Thỏa thuận Chung Paris, đến năm 2025, các quốc gia phát triển phải đóng góp 100 tỷ USD mỗi năm để giúp các quốc gia đang phát triển cải tiến kết cấu năng lượng và công nghệ trong các ngành công nghiệp. Trong hơn 100 nước ký kết thỏa thuận này, riêng Hoa Kỳ đã phải chịu đến 75% chi phí hàng năm, tương đương khoảng 75 tỷ USD. Đồng thời, đến năm 2025, Hoa Kỳ lại phải giảm lượng khí thải nhà kính xuống ít nhất 26% đến 28% so với năm 2005, nghĩa là mỗi năm, Hoa Kỳ phải cắt giảm 1,6 tỷ tấn khí thải.

Còn với Trung Quốc, đất nước đã vượt qua Hoa Kỳ, trở thành quốc gia ô nhiễm nhất thế giới, thì Thỏa thuận Chung Paris lại cho phép đến năm 2030 mới tính là đạt mức đỉnh khí thải carbonic. [46]

Trong một tuyên bố về Thỏa thuận Khí hậu Paris (Paris Climate Accord), Tổng Thống Trump đã chỉ ra: “Nếu tiếp tục tuân thủ các điều khoản của Thỏa thuận chung Paris và những hạn chế hà khắc về năng lượng mà nó đặt ra cho Hoa Kỳ thì theo thống kê của Hiệp hội Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia, đến năm 2025, Hoa Kỳ có thể mất đến 2,7 triệu việc làm. … Theo nghiên cứu này, đến năm 2040, việc tuân thủ các cam kết mà chính quyền tiền nhiệm đề ra sẽ dẫn đến sự sụt giảm sản lượng của những ngành công nghiệp sau: giấy giảm 12%; xi măng giảm 23%; sắt thép giảm 38%; than … giảm 86%; khí ga tự nhiên giảm 31%. Tổn thất đối với nền kinh tế khi đó sẽ là GDP giảm gần 3.000 tỷ USD và mất 6,5 triệu việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, trong khi thu nhập bình quân hộ gia đình sẽ giảm 7.000 USD, thậm chí còn nhiều hơn thế nữa.” [47]

Với danh nghĩa bảo vệ môi trường, các nước cộng sản đã giành được ưu thế trong cuộc chiến với phương Tây. Những quy định pháp luật và hiệp định vô lý bóp nghẹt các ngành công nghiệp, kinh tế, và công nghệ ở các nước tư bản phương Tây. Điều đó kìm hãm Mỹ trong vai trò cảnh sát quốc tế và là thành trì cuối cùng của thế giới phương Tây trong cuộc chiến với cộng sản.

Chúng tôi không phủ định rằng môi trường cần phải được bảo vệ. Nhưng, mục đích bảo vệ môi trường là vì con người, vốn là anh linh của vạn vật. Nhu cầu bảo vệ môi trường cần phải cân đối với nhu cầu của con người. Bảo vệ môi trường chỉ vì mục đích bảo vệ môi trường, đến mức dùng con người làm vật hy sinh thì đã là thái quá, là đã mắc mưu của chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường hiện nay không quan tâm đến sự cân bằng, mà đã trở thành một hình thái ý thức cực đoan. Chúng ta không hoài nghi rằng có rất nhiều người hoạt động bảo vệ môi trường là xuất phát từ nguyện vọng tốt đẹp. Nhưng trong quá trình huy động và tập trung tài nguyên của quốc gia nhằm đạt được mục đích của họ, họ đang tiến vào hàng ngũ của chủ nghĩa cộng sản.

3.3 Truyền thông áp chế những tiếng nói bất đồng

Tháng 6/2008, Chương trình Good Morning America của Đài ABC của Mỹ đã phát sóng một chương trình đặc biệt với hình thức hình dung về tương lai và dự đoán ảnh hưởng của nóng lên toàn cầu đối với trái đất và con người trong 100 năm tới. Trong chương trình, một “chuyên gia” tuyên bố rằng năm 2015 mực nước biển sẽ dâng lên nhanh chóng, New York sẽ bị nước biển nhấn chìm. Một người được phỏng vấn phát biểu rằng đến khi đó sẽ có “một trận hỏa hoạn kéo dài đến hàng trăm dặm”, một gallon sữa bò có giá lên tới 12.9 USD; một gallon dầu có giá lên đến 9 USD. Luận điệu của họ cường điệu tới mức khiến một người dẫn chương trình không đừng được mà đặt câu hỏi nghi vấn liệu tất cả những điều này có thực sự có khả năng xảy ra không.

Trên thực tế, có thể xảy ra hay không không phải là vấn đề chủ yếu mà giới truyền thông phải xem xét. “Ý thức thảm họa” là cây gậy chỉ huy của chủ nghĩa bảo vệ môi trường để khuấy động đại chúng, nhưng tính không chắc chắn và ý thức về thảm họa lại mâu thuẫn với nhau. Những điều khoa học chưa có kết luận cuối cùng làm sao có thể cho phép tạo thành cảm giác khủng hoảng trong đại chúng được? Vì thế, chủ nghĩa bảo vệ môi trường lấy cờ hiệu bảo vệ tương lai của toàn nhân loại để áp chế những tiếng nói bất đồng và đạt được sự đồng thuận trong công chúng dưới danh nghĩa “đồng thuận khoa học”.

Nhà kinh tế học người Đan Mạch Bjørn Lomborg, trong cuốn “Những nhà bảo vệ môi trường có thái độ hoài nghi: Đánh giá thực trạng của thế giới” (The Skeptical Environmentalist: Measuring the Real State of the World), đã viết rằng hiện tượng nóng lên của khí hậu là do hoạt động của con người tạo nên. Nhưng ông cho rằng khả năng thích ứng của con người và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật sẽ đẩy lùi thảm họa. Vì lập trường của ông có mâu thuẫn với giáo điều của nghủ nghĩa bảo vệ môi trường rằng biến đổi khí hậu là do con người gây ra nên sau đó, ông đã bị đả kích rất nhiều trong xã hội.

Chủ tịch Ủy ban Biến đổi Khí hậu Liên Hợp Quốc ví Lomborg như Hitler, Ủy ban Chống Gian lận Khoa học của Đan Mạch tiến hành thẩm định tác phẩm của Lomborg, rồi tuyên bố ông có sự “gian lận khoa học” (nhưng các điều tra của chính phủ sau đó đã chứng minh Lomborg vô tội). Những người phản đối ông mưu đồ lợi dụng phán quyết của Ủy ban Chống Gian lận Khoa học, để hạ bệ ông khỏi chức vụ Giám đốc Viện Nghiên cứu Đánh giá Môi trường Đan Mạch. Ở một ga tàu hỏa, mọi người thậm chí còn không muốn đứng cùng chỗ với Lomborg. Một người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường thậm chí còn úp bánh vào mặt ông. [48]

Trong cuốn “Cảnh báo ngớ ngẩn toàn cầu: Mẹ thiên nhiên đã lừa các nhà khoa học khí hậu hàng đầu thế giới như thế nào (The Great Global Warming Blunder: How Mother Nature Fooled the World’s Top Climate Scientists), Roy Spencer, nhà khí hậu học, cựu chuyên gia vệ tinh của NASA đã tổng kết 14 chiêu tuyên truyền mà những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường sử dụng, trong đó có tạo ra khủng hoảng, cậy nhờ quyền lực, lợi dụng tâm lý đám đông, hứa hẹn giành chiến thắng, công kích cá nhân, kích động tình cảm, biên tạo tin đồn v.v. [49]

Năm 2006, nhà báo người Anh Brendan O’Neill đã viết một bài tổng kết hiện tượng áp chế ngôn luận và tư tưởng đối với những người dám hoài nghi về thuyết biến đổi khí hậu xảy ra ở rất nhiều quốc gia bấy giờ. [50] Chẳng hạn, một nhà ngoại giao người Anh đã nói trong một bài phát biểu trước công chúng rằng truyền thông nên đối xử với những người hoài nghi về biến đổi khí hậu như với phần tử khủng bố, và không nên cho họ đất để phát biểu ý kiến.

O’Neill chỉ ra rằng, những người hoài nghi thuyết biến đổi khí hậu bị chụp mũ là “kẻ phủ nhận”. Trong đó có nhiều nhóm người, từ những người thừa nhận sự nóng lên của khí hậu nhưng cho rằng chúng ta có thể ứng phó, cho đến những người hoàn toàn phủ nhận nóng lên không phải là hiện tượng khoa học nào cả. Những từ này có tính sát thương rất lớn. Charles Jones, một giáo sư tiếng Anh đã về hưu của trường Đại học Edinburgh chỉ ra rằng, cái mũ “kẻ phủ nhận” này xếp những người có thái độ hoài nghi vào diện suy đồi đạo đức ngang hàng với những kẻ phủ nhận cuộc thảm sát người Do Thái của Hitler (Holocaust). Theo O’Neill, một số người thậm chí còn tuyên bố coi những người hoài nghi thuyết biến đổi khí hậu như tòng phạm của cuộc đại thảm sát sinh thái sắp xảy đến, tương lai họ có thể sẽ bị xét xử như phiên tòa Nuremberg. Một tác gia nổi tiếng của chủ nghĩa bảo vệ môi trường từng viết: “Cuối cùng, khi chúng ta có thái độ nghiêm túc về những cảnh báo toàn cầu, khi chúng thực sự tác động đến chúng ta, và khi cả thế giới đã dốc sức để giảm thiểu tổn thất, chúng ta cần phải tiến hành xét xử theo hình thức tội phạm chiến tranh đối với những tên khốn kia – kiểu như phiên tòa Nuremberg khí hậu.”

O’Neill bình luận trong bài viết của ông rằng: “Thông thường, chỉ có ở các quốc gia chuyên chế mới coi tư tưởng hay lời nói bằng như phạm tội, ở đó những kẻ độc tài nói về ‘tội tư tưởng’ và mối đe dọa của những tội đó đối với kết cấu xã hội. … Từ quy kết một nhóm người nào đó là ma quỷ, gọi ngôn ngữ của họ là nguy hiểm và độc hại, đến yêu cầu kiểm duyệt nhiều hơn, gắt gao hơn chỉ cách nhau một bước ngắn.” [51] Nhận định như vậy là đúng. Hạn chế quyền tư duy là một trong những thủ đoạn mà chủ nghĩa cộng sản dùng để thay thế giá trị phổ quát mà con người làm căn cứ để nhận định thiện ác.

Một giáo sư thiên văn học của Đại học Harvard đã công bố một luận văn luận bàn về vai trò của mặt trời đối với biến đổi khí hậu dựa trên những ghi chép về nhiệt độ của trái đất trong quá khứ. Luận văn của ông đã động chạm đến giáo điều rằng con người là căn nguyên gây ra biến đổi khí hậu, mà ông bị một trang web của chủ nghĩa bảo vệ môi trường nào đó dán nhãn là “kẻ giết người hàng loạt có chủ ý”, còn gọi những người bất đồng ý kiến khác là “tội phạm nguy hiểm”. [52]

Những ví dụ loại này nhiều vô số. Một quan chức cao cấp của một nhóm bảo vệ môi trường lớn đã cảnh cáo truyền thông phải cân nhắc kỹ trước khi đăng quan điểm của những người hoài nghi thuyết biến đổi khí hậu, bởi vì “để những tin tức sai lệch như thế lan rộng sẽ gây tác hại.” [53]

Ngoại trưởng Anh nói trong một bài phát biểu rằng, cũng giống các phần tử khủng bố không được xuất hiện trên truyền thông, những người hoài nghi thuyết nóng lên toàn cầu cũng không có quyền phát biểu ý kiến trên truyền thông. [54] Các chủ bút của các chuyên mục ở Úc đang bắt đầu xem xét khởi tố những “kẻ phủ nhận” biến đổi khí hậu với tội danh “tội phạm phản nhân loại”. Tại một hội nghị thượng đỉnh có sự tham gia của các chính trị gia chủ chốt của Úc, gồm cả Thủ tướng Úc, có một đề xuất về việc tước quyền công dân của những người vi phạm. Trong đó có một ý kiến là tái xét duyệt tư cách công dân Úc, và chỉ những người chứng minh được bản thân là người “thân thiện với môi trường khí hậu” thì mới được tái cấp quyền công dân. [55]

Có người thậm chí còn muốn dùng pháp luật để dập tắt tiếng nói của những người phản đối giả thuyết nóng lên của khí hậu. Năm 2015, 20 chuyên gia học thuật đã gửi thư đến Tổng thống và Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ, đề nghị dùng Đạo luật về Tổ chức Tham nhũng và Làm giàu bằng Tội ác (Racketeer Influenced and Corrupt Organizations Act) để điều tra những tổ chức và công ty có cách nhìn không đạt chuẩn đối với vấn đề biến đổi khí hậu. Mong muốn thực sự của họ là dùng pháp luật để ngăn cấm tự do ngôn luận. [57]

Năm 2016, kiểm sát trưởng của một số bang bắt đầu hình thành một liên minh điều tra xem các ngành năng lượng truyền thống có làm lạc hướng các nhà đầu tư và đại chúng về “tác động của biến đổi khí hậu” hay không, và nếu có thì sẽ khởi tố. Quỹ Di sản (Heritage Foundation) chỉ ra rằng buộc tội và điều tra những người có cái nhìn bất đồng là vi phạm Tu chính án Thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ, thực ra là bóp nghẹt quyền biện luận đối với các chính sách công trọng yếu. [57]

3.4 Thao túng các nhóm “dân sự” để phát động cách mạng đường phố

Khởi phát các phong trào đại chúng là một trong những thủ đoạn của chủ nghĩa cộng sản nhằm lan rộng ảnh hưởng ra toàn quốc và trên khắp thế giới. Nhiều tổ chức bảo vệ môi trường đã huy động đông đảo người để phát động các chiến dịch bảo vệ môi trường. Họ vận động hành lang, cưỡng chế các cơ quan chính phủ và các tổ chức của Liên Hợp Quốc để chế định và ép buộc thi hành những quy định pháp luật và hiệp định bất hợp lý. Họ thậm chí còn tạo ra các vụ bạo lực để bịt miệng đại chúng.

Nhân vật đại biểu cho cánh tả cấp tiến Saul Alinsky từng nói rõ rằng cần phải giấu mục đích thực sự của cuộc vận động và dùng mục tiêu cục bộ, mang tính tạm thời, có vẻ hợp lý, hoặc vô hại để huy động đông đảo người trên diện rộng hành động. Khi người ta đã thích ứng với kiểu vận động tương đối ôn hòa như thế này rồi, thì cũng khá dễ đưa họ đến mục tiêu cấp tiến hơn để hành động. “Nhớ kỹ: một khi đã tổ chức được quần chúng hành động về vấn đề nào đó đã có sự đồng thuận, như vấn đề ô nhiễm chẳng hạn, thì quần chúng có tổ chức đó liền bắt đầu hành động. Từ ô nhiễm đến ô nhiễm chính trị, rồi đến ô nhiễm Lầu Năm Góc chỉ còn là một bước nhỏ rất tự nhiên. [58]

Trong ngày Trái đất đầu tiên năm 1970, có hơn 20 triệu người Mỹ tham gia biểu tình đường phố với chủ đề Ngày Trái đất. Kiểm soát dân số đã trở thành biện pháp được chọn để ứng phó với sự suy thoái môi trường. Vào thời điểm đó rất nhiều tổ chức cánh tả ở Mỹ đã quyết định đến những nơi có nhiều người sinh sống. Họ tham gia vào các cuộc vận động bảo vệ môi trường, và chủ trương chủ nghĩa xã hội là một biện pháp hạn chế tăng trưởng dân số.

Các nhóm cánh tả muôn hình vạn trạng lợi dụng chủ nghĩa bảo vệ môi trường để hình thành hình thái ý thức, chuẩn bị tiến hành hành động đường phố để phát động cách mạng. Chẳng hạn, nếu một quốc gia có “phong trào khí hậu nhân dân” thì bạn có thể suy đoán nó là một sản phẩm của đảng cộng sản. Ở Mỹ, các tổ chức tham gia vào phong trào này có Đảng Cộng sản Mỹ, Chủ nghĩa Xã hội Hành động, Đảng Cộng sản Cách mạng Mỹ theo Chủ nghĩa Mao, Xã hội Sinh thái, Công nhân Xã hội Chủ nghĩa, Chủ nghĩa Xã hội Mới, Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ Mỹ, Chủ nghĩa Xã hội Tự do, v.v. Họ tổ chức cuộc Mít-tinh Khí hậu Nhân dân và Diễu hành Khí hậu Nhân dân. Biểu ngữ tại những cuộc mít-tinh này là “Thay đổi chế độ, chứ không thay đổi khí hậu”, “Chủ nghĩa tư bản đang giết chết chúng ta”, “Chủ nghĩa tư bản đang hủy hoại môi trường”, “Chủ nghĩa tư bản đang hủy hoại hành tinh”, “Chiến đấu vì một tương lai xã hội chủ nghĩa”. [59]

Những nhóm này diễu hành với một biển cờ đỏ ở rất nhiều thành phố lớn ở Mỹ, trong đó có Washington DC. [60] Khi ngày càng có nhiều nhân tố cộng sản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa làm lớn mạnh chủ nghĩa bảo vệ môi trường, thì công cuộc “hòa bình xanh” (green peace) cũng đang biến thành cách mạng đỏ.

3.5 Một tôn giáo mới của chủ nghĩa phản nhân loại

Không chỉ thao khống chủ nghĩa bảo vệ môi trường để vận động chính trị, chủ nghĩa cộng sản còn tác động để biến chủ nghĩa bảo vệ môi trường thành một loại tôn giáo mới, hơn nữa còn là một loại tà giáo phản nhân loại.

Michael Crichton, tác giả của “Công viên Kỷ Jura” (Jurassic Park) từng nói, chủ nghĩa bảo vệ môi trường là một trong những tôn giáo mạnh nhất ở các nước phương Tây ngày nay. Ông cho rằng, chủ nghĩa bảo vệ môi trường đã hội đủ đặc tính điển hình của một tôn giáo: “Có một khu vườn địa đàng nguyên sơ, một thiên đường, một nơi đầy ân điển và sự hợp nhất với thiên nhiên; có tình trạng từ ân điển đó mà suy đồi đến ô nhiễm do ăn những thứ từ cây tri thức, và vì hành động của chúng ta, sẽ có một ngày thẩm phán đợi chúng ta trước mắt. Chúng ta đều là những tội đồ năng lượng, đang đứng trước sự diệt vong, trừ khi chúng ta đi tìm sự cứu rỗi, sự cứu rỗi ấy nay được gọi là tính bền vững. Tính bền vững ấy là sự cứu rỗi trong nhà thờ môi trường.” [61]

Crichton cho rằng, toàn bộ tín điều của chủ nghĩa bảo vệ môi trường đều chỉ là vấn đề niềm tin: “Đó là vấn đề bạn sẽ trở thành kẻ có tội, hay được cứu; bạn có phải là một trong những người bên bờ được cứu rỗi, hay nằm trong số những kẻ bị hủy diệt; bạn có phải một trong chúng tôi, hay là một trong số bọn họ.” [62]

Cách nhìn này nhận được sự đồng tình của một số học giả. William Cronon, nhà sử học môi trường có ảnh hưởng ở Mỹ, cho rằng, chủ nghĩa bảo vệ môi trường là một loại tôn giáo mới, bởi vì nó đã đề xuất ra một bộ yêu cầu đạo đức phức tạp dùng để phán xét hành vi của nhân loại. [63]

Dyson, một nhà khoa học lừng danh, cũng là nhà cơ học lượng tử được dẫn lời bên trên, đã nói trong một bài báo năm 2008 có tựa đề “Cuộc đánh giá sách của New York” (New York Review of Books) như sau: Chủ nghĩa bảo vệ môi trường như “một tôn giáo thế tục toàn cầu” đã “thay thế chủ nghĩa xã hội, vốn là một tôn giáo thế tục hàng đầu”. Loại tôn giáo này cho rằng “làm hư hại hành tinh này bằng rác thải từ lối sống xa xỉ của chúng ta là một loại tội, và rằng con đường đúng đắn là sống đạm bạc hết mức có thể.” Ông giải thích thêm rằng, đạo đức của loại tôn giáo mới này “đang được dạy ở trường mẫu giáo, trường học và trường đại học trên khắp thế giới.” [64]

Nhiều người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường cũng không giấu giếm vấn đề này. Rajendra Pachauri, từng là người đứng đầu IPCC phải từ chức vì vụ bê bối quấy rối tình dục, đã nói trong thư từ chức rằng chủ nghĩa bảo vệ môi trường là “tôn giáo của tôi”. [65]

Khi chủ nghĩa bảo vệ môi trường ngày càng lộ ra bản chất của một hình thái ý thức, một tôn giáo, thì nó cũng ngày càng khó dung hòa với những quan điểm bất đồng. Nguyên Tổng thống Czech Klaus cho rằng, phong trào bảo vệ môi trường hiện nay được thúc đẩy bởi hình thái ý thức nhiều hơn là khoa học; biến thành một thứ gần như tôn giáo nhằm hủy hoại xã hội vốn có. Loại tôn giáo mới này cũng giống như chủ nghĩa cộng sản, đã vẽ nên bức tranh tuyệt hảo về một utopia có thể đạt được bằng cách dựa vào sự khôn ngoan của con người để quy hoạch môi trường tự nhiên và cứu rỗi thế giới. Nhưng loại “cứu thế” này lại dựa trên cơ sở phản đối nền văn minh hiện hữu. Chẳng hạn, chủ tịch Hội đồng Đại học Hòa bình (University for Peace) có liên kết với Liên Hợp Quốc, cũng là người thiết kế Nghị định thư Kyoto nói: “Chẳng phải hy vọng duy nhất của hành tinh này là sự sụp đổ của nền văn minh công nghiệp hóa sao?” [66]

Klaus khái quát quan điểm của ông như sau: “Nếu nghiêm túc xem xét cách lý giải của những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường, chúng ta sẽ phát hiện rằng đó là một hình thái ý thức phản nhân loại.” Ông đồng ý với nhà sinh học Ivan Brezina rằng chủ nghĩa bảo vệ môi trường không phải là đáp án lý trí và khoa học cho vấn đề khủng hoảng sinh thái, mà có thể tóm gọn lại là sự chối bỏ toàn bộ nền văn minh. [67]

Chủ nghĩa bảo vệ môi trường lợi dụng danh nghĩa bảo vệ môi trường để kích động thù hận giữa người với người khi công kích những người bất đồng ý kiến. Loại hận thù và cực đoan này đã biểu hiện rõ chủ nghĩa phản nhân loại cấp tiến. Nhà phê bình chính trị người Canada, Mark Steyn đã nói, theo những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường, “Bản thân chúng ta chính là sự ô nhiễm, và triệt sản là giải pháp. Cách tốt nhất để truyền lại cho thế hệ con cháu chúng ta một môi trường bền vững hơn là không có con nữa.” Ông đưa ra trường hợp của Toni Vernelli, một phụ nữ Anh, làm ví dụ. Cô ta đã phá thai và triệt sản vì tin rằng sinh con sẽ có hại cho môi trường. [68]

Kiểu tư duy này coi con người như kẻ đầu sỏ phá hoại tự nhiên. Nó đặt môi trường tự nhiên lên vị trí chí cao vô thượng, vượt xa khỏi vị trí thiêng liêng của con người, thậm chí bằng cách kiểm soát sự sinh sản của con người, tước đoạt cả quyền sống của con người. Loại quan điểm này không khác gì quan điểm của chủ nghĩa cộng sản, căn bản là một loại chủ nghĩa phản nhân loại. Thứ tôn giáo mới này đã thay thế cách nhìn nhận con người là anh linh của vạn vật trong tín ngưỡng truyền thống. Loại quan điểm kết hợp màu sắc tôn giáo, chủ nghĩa cực quyền, và cưỡng chế thống nhất tư tưởng này, cũng như cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, không thể đảm bảo con người sẽ bảo vệ môi trường. Ngược lại, nó sẽ phá hủy nền văn minh hiện hữu, phá hủy tự do và trật tự vốn có, đồng thời tạo ra khủng hoảng và sự hỗn loạn trước nay chưa từng có, khiến nhân loại rơi vào con đường sai lạc. Đây mới là ý đồ thực sự của những tác động của chủ nghĩa đằng sau chủ nghĩa bảo vệ môi trường.

Lời kết: Kính Thần, khôi phục truyền thống là con đường thoát khỏi khủng hoảng môi trường

Thần đã sáng tạo ra con người, đồng thời cũng sáng tạo ra trái đất phồn vinh tươi đẹp cho con người. Đây là môi trường sinh sôi, tồn tại của nhân loại. Con người có quyền sử dụng, đồng thời có nghĩa vụ quý trọng tài nguyên trong tự nhiên, cũng như bảo vệ môi trường và vạn vật. Hàng nghìn năm qua, nhân loại đã khắc cốt ghi tâm lời răn mà Thần truyền lại từ xa xưa và sinh sống hài hòa với tự nhiên.

Vấn đề môi trường xuất hiện thời cận đại, suy cho cùng, là do tâm của con người trở nên xấu đi. Sự suy thoái về đạo đức lại bị khoa học kỹ thuật phóng đại hơn nữa. Môi trường tự nhiên bị ô nhiễm chẳng qua là biểu hiện bên ngoài của thế giới nội tâm ô uế của nhân loại. Vì thế, muốn làm sạch hoàn cảnh môi trường ắt phải bắt đầu từ làm sạch nội tâm.

Ý thức bảo vệ môi trường xuất phát từ bản năng sinh tồn của nhân loại. Đây vốn là điều tự nhiên, và dễ hiểu, nhưng nó đã trở thành sơ hở để tà linh cộng sản thừa nước đục thả câu. Chủ nghĩa cộng sản đã lợi dụng để dấy lên nỗi hoang mang trên diện rộng, cổ xúy cho những giá trị quan biến dị, tước đoạt quyền tự do của con người, mưu đồ thành lập đại chính phủ, thậm chí là chính phủ toàn cầu. Vì kỳ vọng bảo vệ môi trường mà đi theo hình thức biến tướng này của chủ nghĩa cộng sản sẽ chỉ đẩy nhân loại vào chỗ bị nô dịch và tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa cộng sản đạt được mục đích của nó là hủy diệt nhân loại.

Việc giải quyết vấn đề môi trường không thể dựa vào vận động chính trị cưỡng chế, cũng không thể chỉ dựa vào khoa học kỹ thuật hiện đại. Để tìm lối thoát, chúng ta phải có sự hiểu biết sâu sắc hơn về vũ trụ, tự nhiên, và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, cũng như phải giữ gìn chuẩn mực đạo đức cao thượng. Khi nhân loại khôi phục truyền thống, nâng cao đạo đức, và tìm về con đường mà Thần đã đặt định, tự nhiên sẽ nhận được ân điển và trí huệ từ Thần. Non xanh nước biếc, hoa thơm chim hót sẽ quay trở lại bên những con dân của Thần. Trời cao trong xanh, càn khôn tươi sáng sẽ tồn tại cùng nhân loại đến muôn đời.

Tài liệu tham khảo

Từ Mục 1 đến 2.2

[1] Đổng Trọng Thư, “Xuân Thu phồn lộ-Phục chế”, Quyển thứ tư,https://ctext.org/chun-qiu-fan-lu/fu-zhi-xiang/zh. [Tiếng Trung]

[2] Khổng Tử, The Universal Order or Conduct of Life, a Confucian Catechism, “Being a Translation of One of the Four Confucian Books, Hitherto Known as the Doctrine of the Mean” (The Shanghai Mercury, Limited, 1906), 68. https://bit.ly/2T74Dsb

[3] Lost Book of Zhou. Dật chu sách – đại tụ mổ, https://ctext.org/lost-book-of-zhou/da-ju/zh. [Tiếng Trung]

[4] The Classic of Rights. Zhai Yi, https://ctext.org/text.pl?node=61379&if=gb&show=parallel. [Tiếng Trung]

[5] Rupert Darwall, The Age of Global Warming: A History (London: Quartet Books Limited, 2013), Chapter 1.

[6] Wes Vernon, “The Marxist Roots of the Global Warming Scare,” Renew America, June 16, 2008, https://web.archive.org/web/20100724052619/http://www.renewamerica.com:80/columns/vernon/080616.

[7] Frederick Engels, “Notes and Fragments,” Dialectics of Nature, 1883, accessed December 28, 2018, https://www.marxists.org/archive/marx/works/1883/don/ch07g.htm.

[8] Brian Sussman, Eco-Tyranny: How the Left’s Green Agenda Will Dismantle America (Washington, D.C.: WND Books, 2012), 8-9.

[9] Như trên., 10.

[10] Như trên., 11.

[11] Như trên., 14-15.

[12] Như trên., 11.

[13] Grace Baumgarten, Cannot Be Silenced (WestBow Press, 2016), Available: http://j.mp/2HgHJ0q

[14] Wes Vernon, “The Marxist Roots of the Global Warming Scare,” Renew America, June 16, 2008, https://web.archive.org/web/20100724052619/http://www.renewamerica.com:80/columns/vernon/080616.

[15] Sussman, Eco-Tyranny, 35.

[16] Vernon, “The Marxist Roots.”

[17] Lewis S. Feuer, “The Friendship of Edwin Ray Lankester and Karl Marx: The Last Episode in Marx’s Intellectual Evolution,” Journal of the History of Ideas 40 (4): 633-648.

[18] John Bellamy Foster, “Marx’s Ecology in Historical Perspective,” International Socialism Journal 96, Winter 2002, http://pubs.socialistreviewindex.org.uk/isj96/foster.htm.

[19] James O’Connor, “Capitalism, Nature, Socialism: A Theoretical Introduction,” Capitalism, Nature, Socialism 1, no. 1 (1988): 11-38, http://www.vedegylet.hu/okopolitika/O‘Connor – Capitalism, Nature, Socialim.pdf.

[20] Joel Kovel and Michael Löwy, “The First Ecosocialist Manifesto,” September 2001?http://green.left.sweb.cz/frame/Manifesto.html.

[21] Joel Kovel, The Enemy of Nature: The End of Capitalism or the End of the World? (London: Zed Books, 2002).

[22] Kevin Andrews, “The Ideological Drive Behind the Greens,” ABC News, November 11, 2010, http://www.abc.net.au/news/2010-11-12/the_ideological_drive_behind_the_greens/41010.

[23] Mikhail Gorbachev, “We Have a Real Emergency,” The New York Times, December 9, 2009, http://www.nytimes.com/2009/12/10/opinion/10iht-edgorbachev.html, and “What Role for the G-20?” The New York Times, April 27, 2009, http://www.nytimes.com/2009/04/28/opinion/28iht-edgorbachev.html.

[24] “Jack Mundey,” Sydney’s Aldermen, http://www.sydneyaldermen.com.au/alderman/jack-mundey/.

[25] Noel Moand, “A Spark That Ignited a Flame: The Evolution of the Earth Liberation Front,” in Igniting a Revolution: Voices in Defense of the Earth, eds. Steven Best and Anthony J. Nocella, II (Oakland, Calif.: AK Press, 2006), 47.

[26] Leslie Spencer, Jan Bollwerk, and Richard C. Morais, “The Not So Peaceful World of Greenpeace,” Forbes, November 1991, https://www.heartland.org/_template-assets/documents/publications/the_not_so_peaceful_world_of_greenpeace.pdf.

[27] Ted Thornhill, “Humans Are NOT to Blame for Global Warming, Says Greenpeace Co-founder, as He Insists There Is ‘No Scientific Proof’ Climate Change Is Manmade,” Daily Mail, February 27, 2014, http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-2569215/Humans-not-blame-global-warming-says-Greenpeace-founder-Patrick-Moore.html#ixzz2vgo2btWJ.

[28] Patrick Moore, “Why I Left Greenpeace,” The Wall Street Journal, April 22, 2008, https://www.wsj.com/articles/SB120882720657033391.

[29] John Vidal, “Not Guilty: The Greenpeace Activists Who Used Climate Change as a Legal Defence,” The Guardian, Sept 10, 2008, https://www.theguardian.com/environment/2008/sep/11/activists.kingsnorthclimatecamp.

[30] Richard Lindzen, “The Climate Science Isn’t Settled,” The Wall Street Journal, November 30, 2009, https://www.wsj.com/articles/SB10001424052748703939404574567423917025400.

[31] Steven E. Koonin, “Climate Science Is Not Settled,” The Wall Street Journal, September 19, 2014, https://www.wsj.com/articles/climate-science-is-not-settled-1411143565.

[32] Steven Koonin, “A ‘Red Team’ Exercise Would Strengthen Climate Science,” The Wall Street Journal, April 20, 2017, https://www.wsj.com/articles/a-red-team-exercise-would-strengthen-climate-science-1492728579.

[33] “NASA Administrator Not Sure Global Warming a Problem,” Space Daily, May 30, 2007, http://www.spacedaily.com/reports/NASA_Administrator_Michael_Griffin_Not_Sure_Global_Warming_A_Problem_999.html.

[34] Alicia Chang, “NASA Chief Regrets Remarks on Global Warming,” NBC News, June 5, 2007, http://www.nbcnews.com/id/19058588/ns/us_news-environment/t/nasa-chief-regrets-remarks-global-warming/.

[35] Rebecca Wright, Sandra Johnson, Steven J. Dick, eds., NASA at 50: Interviews with NASA’s Senior Leadership (Washington, D.C.: National Aeronautics and Space Administration, 2009), 18.

[36] “Lennart Bengtsson Resigns: GWPF Voices Shock and Concern at the Extent of Intolerance Within the Climate Science Community,” The Global Warming Policy Foundation, May 5, 2014, http://www.thegwpf.org/lennart-bengtsson-resigns-gwpf-voices-shock-and-concern-at-the-extent-of-intolerance-within-the-climate-science-community/.

[37] Judith Curry, “Climate Change: No Consensus on Consensus,” CAB Reviews Vol 8, No 001, 2013, 1-9.

[38] Judith A. Curry, “Statement to the Committee on Science, Space and Technology of the United States House of Representatives,” Hearing on Climate Science: Assumptions, Policy Implications and the Scientific Method, March 29, 2017, https://docs.house.gov/meetings/SY/SY00/20170329/105796/HHRG-115-SY00-Wstate-CurryJ-20170329.pdf.

[39] Như trên.

[40] Frederick Seitz, “Major Deception on Global Warming,” The Wall Street Journal, June 12, 1996, https://www.wsj.com/articles/SB834512411338954000.

[41] Như trên.

[42] Larry Bell, “The New York Times’ Global Warming Hysteria Ignores 17 Years of Flat Global Temperatures,” Forbes, August 21, 2013, https://www.forbes.com/sites/larrybell/2013/08/21/the-new-york-times-global-warming-hysteria-ignores-17-years-of-flat-global-temperatures/.

[43] Christopher C. Horner, Red Hot Lies: How Global Warming Alarmists Use Threats, Fraud, and Deception to Keep You Misinformed (New York: Simon and Schuster, 2008), 319; quote attributed to Brendan O’Neill, “Apocalypse My Arse,” Spiked Online, March 9, 2007, https://www.spiked-online.com/2007/03/09/apocalypse-my-arse/, accessed January 19, 2019.

[44] Paul Reiter, “Malaria in the Debate on Climate Change and Mosquito-Borne Disease,” Hearing Before the Subcommittee on Global Climate Change and Impacts of the Committee on Commerce, Science, and Transportation, United States Senate, April 25, 2006, https://www.commerce.senate.gov/pdf/reiter-042606.pdf.

[45] Như trên.

[46] Như trên.

[47] Zoë Corbyn, “Global Warming Wilts Malaria,” Nature, December 21, 2011, https://www.nature.com/news/global-warming-wilts-malaria-1.9695.

[48] James Tylor, “Climate Scientist Quits IPCC, Blasts Politicized ‘Preconceived Agendas,’” The Heartland Institute, April 1, 2005, https://www.heartland.org/news-opinion/news/climate-scientist-quits-ipcc-blasts-politicized-preconceived-agendas?source=policybot.

[49] Horner, Red Hot Lies, 108; David Deming, “Statement to the U.S. Senate Committee on Environment and Public Works,” Full Committee Hearing on Climate Change and the Media, December 6, 2006, https://www.youtube.com/watch?v=u1rj00BoItw.

[50] Horner, Red Hot Lies, 329.

[51] Jonathan Leake, “Wildlife Groups Axe Bellamy as Global Warming ‘Heretic,’” Times Online, May 15, 2005, https://web.archive.org/web/20080906161240/http://www.timesonline.co.uk/tol/news/uk/article522744.ece.

[52] Christopher C. Horner, Red Hot Lies, 110-111.

[53] Như trên.

[54] Patrick J. Michaels and Robert C. Balling Jr., Climate of Extremes: Global Warming Science They Don’t Want You to Know (Washington, D.C.: Cato Institute, 2009), x-xiii.

[55] Christopher C. Horner, Red Hot Lies, 73.

[56] “Climate Skeptics Reveal ‘Horror Stories’ of Scientific Suppression,” U.S. Senate Committee on Environment and Public Works Press Releases, March 6, 2008, https://www.epw.senate.gov/public/index.cfm/press-releases-all?ID=865dbe39-802a-23ad-4949-ee9098538277

[57] Judith A. Curry, “Statement to the Subcommittee on Space, Science and Competitiveness of the United States Senate,” Hearing on “Data or Dogma? Promoting Open Inquiry in the Debate over the Magnitude of Human Impact on Climate Change,” December 8, 2015, https://curryja.files.wordpress.com/2015/12/curry-senate-testimony-2015.pdf.

[58] Như trên.

[59] Như trên.

[60] Scott Waldman, “Judith Curry Retires, Citing ‘Craziness’ of Climate Science,” E&E News, January 4, 2017, https://www.eenews.net/stories/1060047798.

[61] Rich Lowry, “A Shameful Climate Witch Hunt,” National Review Online, February 27, 2015, https://www.nationalreview.com/2015/02/shameful-climate-witch-hunt-rich-lowry/.

[62] Waldman, “Judith Curry Retires”

[63] “U. S. Senate Minority Report: More Than 650 International Scientists Dissent Over Man-Made Global Warming Claims. Scientists Continue to Debunk ‘Consensus’ in 2008,” U.S. Senate Environment and Public Works Committee Minority Staff Report (Inhofe), Dec 11, 2008, https://www.epw.senate.gov/public/_cache/files/8/3/83947f5d-d84a-4a84-ad5d-6e2d71db52d9/01AFD79733D77F24A71FEF9DAFCCB056.senateminorityreport2.pdf.

Tài liệu tham khảo từ mục 2.3 đến cuối bài

[1] Trúc Khả Trinh: Nghiên cứu sơ bộ về sự thay đổi khí hậu 5000 năm của Trung Quốc ,Báo Khảo cổ học, Kỳ I, năm 1972, Trang168-189. [Tiếng Trung]

[2] Martin Durkin, The Great Global Warming Swindle (documentary film, 2007), Channel 4 (U.K.), March 8, 2007.

[3] Takuro Kobashi, et. Al., “4 ± 1.5° C Abrupt Warming 11,270 Years Ago Identified From Trapped Air in Greenland Ice,” Earth and Planetary Science Letters 268 (2008): 397–407.

[4] Freeman Dyson, “Misunderstandings, Questionable Beliefs Mar Paris Climate Talks,” The Boston Globe, December 3, 2015. https://www.bostonglobe.com/opinion/2015/12/03/freeman-dyson-misunderstandings-questionable-beliefs-mar-paris-climate-talks/vG3oBrbmcZlv2m22DTNjMP/story.html.

[5] Scott Waldman, “Judith Curry Retires, Citing ‘Craziness’ of Climate Science,” E&E News,January 4, 2017, https://www.eenews.net/stories/1060047798.

[6] J. A. Curry and P. J. Webster, “Climate Science and the Uncertainty Monster,” Bulletin of American Meteorology Society 92, no. 12:1667–1682. https://journals.ametsoc.org/doi/pdf/10.1175/2011BAMS3139.1.

[7] IPCC, “Working Group I: The Physical Science Basis,” IPCC Fourth Assessment Report: Climate Change 2007https://archive.ipcc.ch/publications_and_data/ar4/wg1/en/ch8s8-2-1-3.html.

[8] Ibid, https://archive.ipcc.ch/publications_and_data/ar4/wg1/en/faq-2-1.html.

[9] Mark W. Shephard et al., “Comparison of Tropospheric Emission Spectrometer Nadir Water Vapor Retrievals with in situ measurements,” Journal of Geophysical Research113, no D15S24, doi:10.1029/2007JD008822.

[10] “Climate Change,” APS Physics, American Physical Society Web Page. https://www.aps.org/policy/reports/popa-reports/energy/climate.cfm.

[11] “Solar Constant,” Encyclopedia Britannica. https://www.britannica.com/science/solar-constant.

[12] Willie Soon, et al., “Modeling Climatic Effects of Anthropogenic Carbon Dioxide Emissions: Unknowns and Uncertainties,” Climate Research 18 (2001): 259–275.

[13] Michael Lemonick, “Freeman Dyson Takes on the Climate Establishment,” Yale Environment 360, June 4, 2009. https://e360.yale.edu/features/freeman_dyson_takes_on_the_climate_establishment.

[14] Nir J. Shaviv, “Celestial Driver of Phanerozoic Climate?” Geological Society of America Today 13, no. 7: 4–10, July 2003. https://www.geosociety.org/gsatoday/archive/13/7/pdf/i1052-5173-13-7-4.pdf.

[15] J. Emile-Geay et al., “Links between Tropical Pacific Seasonal, Interannual and Orbital Variability during the Holocene,” Nature Geoscience 9 (2) (2016): 168–173.

[16] Zhengyu Liu et al., “The Holocene Temperature Conundrum,” PNAS 111, no. 34 (August 26, 2014).

[17] Hans von Storch, “Why Is Global Warming Stagnating?” Der Spiegel, June 20, 2013. http://www.spiegel.de/international/world/interview-hans-von-storch-on-problems-with-climate-change-models-a-906721.html.

[18] Richard S. Lindzen et. Al., “Does the Earth Have an Adaptive Infrared Iris?,” Bulletin of the American Meteorological Society 82 (2001): 417–432, https://doi.org/10.1175/1520-0477(2001)082<0417:DTEHAA>2.3.CO;2.

[19] Roy Spencer and William D. Braswell, “Potential Biases in Feedback Diagnosis from Observational Data: A Simple Model Demonstration,” Journal of Climate, 21 (21): 5624–5628, November 1, 2008.

[20] John R. Christy, Written Report to Senate Commerce, Science and Transportation Committee, November 14, 2007. https://www.nsstc.uah.edu/users/john.christy/christy/ChristyJR_CST_071114_written.pdf.

[21] David Russell Legates, “Statement to the Environment and Public Works Committee
of the United States Senate,” U.S. Senate, July 3, 2014. https://www.epw.senate.gov/public/_cache/files/a/a/aa8f25be-f093-47b1-bb26-1eb4c4a23de2/01AFD79733D77F24A71FEF9DAFCCB056.6314witnesstestimonylegates.pdf.

[22] William Happer, “Data or Dogma? Promoting Open Inquiry in the Debate Over the Magnitude of Human Impact on Earth’s Climate,” Hearing of the U.S. Senate Subcommittee on Space, Science and Competitiveness (U.S. Senate Committee on Commerce, Science and Transportation), December 8, 2015. https://www.commerce.senate.gov/public/_cache/files/c8c53b68-253b-4234-a7cb-e4355a6edfa2/FA9830F15064FED0A5B28BA737D9985D.dr.-william-happer-testimony.pdf.

[23] Sir John Houghton, “Moral Outlook: Earthquake, Wind and Fire,” Sunday Telegraph,October 9, 1995.

[24] Jason Samenow, “Scientists: Don’t Make ‘Extreme Cold’ Centerpiece of Global Warming Argument,” The Washington Post, February 20, 2014. https://www.washingtonpost.com/news/capital-weather-gang/wp/2014/02/20/scientists-dont-make-extreme-cold-centerpiece-of-global-warming-discussions/?noredirect=on&utm_term=.3600e477f052.

[25] John Michael Wallace, “The Misplaced Emphasis on Extreme Weather in Environmental Threat Communication,” The Washington Post,March 14, 2014. https://www.washingtonpost.com/news/capital-weather-gang/wp/2014/03/14/the-misplaced-emphasis-on-extreme-weather-in-environmental-threat-communication/?utm_term=.bf84802d4613.

[26] Steven E. Koonin, “A Deceptive New Report on Climate,” The Wall Street Journal, November 2, 2017. https://www.wsj.com/articles/a-deceptive-new-report-on-climate-1509660882.

[27] Như trên

[28] “Climate Change Indicators: High and Low Temperatures,” United States Environmental Protection Agency. https://www.epa.gov/climate-indicators/climate-change-indicators-high-and-low-temperatures.

[29] Judith A. Curry, “Statement to the Subcommittee on Space, Science and Competitiveness of the United States Senate,” Hearing on “Data or Dogma? Promoting Open Inquiry in the Debate Over the Magnitude of Human Impact on Climate Change,”December 8, 2015. https://curryja.files.wordpress.com/2015/12/curry-senate-testimony-2015.pdf.

[30] Mike Hulme, “Chaotic World of Climate Truth,” BBC, November 4, 2006. http://news.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/6115644.stm.

[31] Roy W. Spencer, Climate Confusion: How Global Warming Leads to Bad Science, Pandering Politicians and Misguided Policies that Hurt the Poor (New York: Encounter Books, 2008), Chapter 5.

[32] Christopher C. Horner, Red Hot Lies: How Global Warming Alarmists Use Threats, Fraud, and Deception to Keep You Misinformed (Washington. D.C.: Regnery Publishing, 2008), 214.

[33] Horner, Red Hot Lies, 215.

[34] Horner, Red Hot Lies, 211.

[35] Horner, Red Hot Lies, 212–213.

[36] Horner, Red Hot Lies, 227.

[37] David Shearman and Joseph Wayne Smith, The Climate Change Challenge and the Failure of Democracy (Westport, Conn.: Praeger, 2007).

[38] Horner, Red Hot Lies, 219–220.

[39] Paul Ehrlich, as quoted in Václav Klaus, Blue Planet in Green Shackles: What Is Endangered: Climate or Freedom? (Washington, D.C.: Competitive Enterprise Institute, 2008), 14.

[40] John Bachtell, “China Builds an ‘Ecological Civilization’ While the World Burns,” People’s World, August 21, 2018. https://www.peoplesworld.org/article/china-builds-an-ecological-civilization-while-the-world-burns/.

[41] Klaus, Blue Planet in Green Shackles,4.

[42] Klaus, Blue Planet in Green Shackles,7–8.

[43] Klaus, Blue Planet in Green Shackles,100.

[44] John Fund, “Rollback Obama’s CAFE Power Grab, Give Car Consumers Freedom,” National Review, May 23, 2018. https://www.nationalreview.com/corner/fuel-standards-cafe-epa-rolls-back/.

[45] Ariana Eunjung Cha, “Solar Energy Firms Leave Waste Behind in China,” The Washington Post, March 9, 2008. http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2008/03/08/AR2008030802595.html?referrer=emailarticle&noredirect=on.

[46] The Paris Agreement on Climate Change, Natural Resources Defense Council (NRDC), December 2015, IB: 15-11-Y. https://www.nrdc.org/sites/default/files/paris-climate-agreement-IB.pdf.

[47] Donald J. Trump, “Statement by President Trump on the Paris Climate Accord,” The White House, June 1, 2017. https://www.whitehouse.gov/briefings-statements/statement-president-trump-paris-climate-accord/.

[48] Horner, Red Hot Lies, 117.

[49] Roy W. Spencer, The Great Global Warming Blunder: How Mother Nature Fooled the World’s Top Climate Scientists (New York: Encounter Books, 2010), 31.

[50] Brendan O’Neill, “A Climate of Censorship,” The Guardian, November 22, 2006. https://www.theguardian.com/commentisfree/2006/nov/22/aclimateofcensorship.

[51] O’Neill, “A Climate of Censorship.”

[52] Horner, Red Hot Lies, 64.

[53] O’Neill, “A Climate of Censorship.”

[54] Như trên

[55] Horner, Red Hot Lies, 107.

[56] “Letter to President Obama, Attorney General Lynch, and OSTP Director Holdren,” September 1, 2015. http://web.archive.org/web/20150920110942/http:/www.iges.org/letter/LetterPresidentAG.pdf

[57] Hans von Spakovsky and Nicolas Loris, “The Climate Change Inquisition: An Abuse of Power that Offends the First Amendment and Threatens Informed Debate,” The Heritage Foundation, October 24, 2016. https://www.heritage.org/report/the-climate-change-inquisition-abuse-power-offends-the-first-amendment-and-threatens.

[58] Saul Alinsky, “Tactics,” Rules for Radicals: A Practical Primer for Realistic Radicals (New York: Vintage Books, 1971).

[59] “Climate Movement Drops Mask, Admits Communist Agenda,” PJ Media, September 23, 2014. https://pjmedia.com/zombie/2014/9/23/climate-movement-drops-mask-admits-communist-agenda/.

[60] “People’s Climate March: Thousands Rally to Denounce Trump’s Environmental Agenda,” The Guardian, April 29, 2017. https://www.theguardian.com/us-news/2017/apr/30/peoples-climate-march-thousands-rally-to-denounce-trumps-environmental-agenda.

[61] Michael Crichton, “Crichton: Environmentalism Is a Religion,” Hawaii Free Press, April 22, 2018. http://www.hawaiifreepress.com/ArticlesMain/tabid/56/ID/2818/Crichton-Environmentalism-is-a-religion.aspx.

[62] Như trên

[63] Robert H. Nelson, “New Religion of Environmentalism,” Independent Institute, April 22, 2010. http://www.independent.org/news/article.asp?id=5081.

[64] Joel Garreau, “Environmentalism as Religion,” The New Atlantis, Summer 2010. https://www.thenewatlantis.com/docLib/20100914_TNA28Garreau.pdf.

[65] Damian Carrington, “IPCC Chair Rajendra Pachauri Resigns,” The Guardian, February 24, 2015. https://www.theguardian.com/environment/2015/feb/24/ipcc-chair-rajendra-pachauri-resigns.

[66] Michael Whitcraft, “A Lot of Hot Air: A Review of Václav Klaus’ Recent Book: Blue Planet in Green Shackles// ,” Free Republic, June 13, 2008. http://www.freerepublic.com/focus/f-news/2030948/posts.

[67] Vaclav Klaus. “An anti-human ideology.” Financial Post, October 20, 2010. https://business.financialpost.com/opinion/vaclav-klaus-an-anti-human-ideology.

[68] Mark Steyn. “Children? Not if you love the planet.” The Orange County Register, December 14, 2007. https://www.ocregister.com/2007/12/14/mark-steyn-children-not-if-you-love-the-planet.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2020/4/21/404080.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2020/5/5/184342.html

Đăng ngày 15-06-2020; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share