Khảo cứu nguồn gốc của “Tu luyện” (Phần 2)
Bài viết của Văn Dĩ Minh
[MINH HUỆ 25-09-2025] Trung Quốc xưa nay được gọi là vùng đất “Thần Châu”, đã diễn dịch văn hóa Thần truyền phong phú rực rỡ. Thế nhưng, Trung Quốc ngày nay, chùa chiền, Đạo quán, nhà thờ đã trở thành “công trình du lịch văn hóa”, dùng mọi mánh khóe để thu hút du khách. Có nơi khắp núi non dựng lên đủ các loại tượng Thần cổ quái, chụp ảnh với du khách, dùng các loại danh nghĩa để kiếm tiền, làm cho các núi sông danh tiếng trở nên ô yên chướng khí. Những nơi trước đây là nơi thanh tu, là cảnh ngoài trần thế, ngày nay đã biến thành “máy in tiền” và công cụ chính trị cho ĐCSTQ. Trên mạng và trong đời sống, càng ngày càng nhiều người chế nhạo và đùa giỡn với từ “Tu luyện”, trên thực tế chính là đang phỉ báng sự thiêng liêng của tu luyện.
Mặc dù ở Trung Quốc ngày nay, các tăng nhân, Đạo sĩ và chùa chiền Đạo quán đã trở thành đối tượng và địa điểm giao dịch, nhưng trước năm 1949, những ngôi chùa, Đạo quán với kiến trúc cổ hàng trăm hàng nghìn năm này, vẫn là một miền tịnh thổ để những người tu Phật, tu Đạo tu tâm hướng thiện, gột sạch tâm, trừ bỏ chấp trước. Hôm nay, chúng ta không nói về chủ đề lớn là nội hàm chân chính của tu luyện, mà từ góc độ văn hóa và lịch sử, thử xem sức nặng mà 2 chữ “Tu luyện” mang theo.
(Tiếp theo Phần 1)
Huyền Tông hoằng Đạo
Trương Quả Lão là một trong Bát Tiên, hình ảnh “cưỡi lừa ngược” của ông người người đều biết, nhà nhà đều hay, mọi người đều coi ông là nhân vật trong truyền thuyết Thần thoại, cho là nhân vật hư cấu.
Nhưng trong Cựu Đường Thư trong 24 bộ sử, lại ghi chép thực sự có người là Trương Quả Lão, ẩn cư ở núi Trung Điều. Võ Tắc Thiên từng triệu kiến ông, nhưng ông lại chết ngay trước mặt sứ thần. Sau này, mọi người lại nhìn thấy ông qua lại trong núi ở Hằng Châu. Thứ sử Hằng Châu dâng tấu lên triều đình, Đường Huyền Tông phái người đi mời ông mấy lần, ông mới đến gặp Đường Huyền Tông.
Đường Huyền Tông muốn biết Trương Quả Lão rốt cuộc là người như thế nào, bèn sai những người giỏi bói toán để xem bói Trương Quả Lão, nhưng không thể nào xem được, “hoàn toàn mờ mịt không biết một chút gì”. [Huyền Tông bảo Trương Quả Lão] ngồi sau bình phong, và tìm thuật sĩ có “thiên nhãn thông” để xem. Thuật sĩ nói nhìn không thấy. Đường Huyền Tông sai đem cẩn chấp – một chất kịch độc ra, để Trương Quả Lão uống 3 chén. [Trương Quả Lão] uống xong liền ngủ ngay. Sau khi tỉnh dậy soi gương, thấy răng đều đã đen, bèn sai người lấy cái Như ý bằng thép, cạy những cái răng hỏng ra, lấy thuốc từ trong ngực ra bôi lên lợi, rồi lại ngủ một lúc. Những chiếc răng lại mọc ra, “lấp lánh trắng bóng, Huyền Tông lúc đó mới tin”. Nhìn những chiếc rằng trắng tinh, Đường Huyền Tông cuối cùng cũng đã tin rồi.
Trương Quả Lão nói, ông là người những năm Hy Hoàng (tức thời Phục Hy), và đã đàm luận một số yếu chỉ của Đạo Pháp. Sau này Trương Quả Lão về núi, Huyền Tông đã xây dựng Thê Hà Quán cho ông, ở “huyện Bồ Ngô”, sau đổi tên thành huyện Bình Sơn.
Cựu Đường Thư là sử quan thời Ngũ đại biên soạn, rất gần với triều Đường, do đó ghi chép những sự thật khá sinh động. Nhưng đến thời Tống, khi biên soạn Tân Đường Thư, Âu Dương Tu là một người rất cẩn thận, nghiêm ngặt, cho rằng trong sử sách Nho gia không thể đột nhiên xuất hiện những chuyện thần kỳ thế này, nên đã lược đi rất nhiều những thứ sinh động sống động trong Cựu Đường Thư, nhưng trường hợp Trương Quả Lão thực sự đáng tin cậy, nên về cơ bản là vẫn giữ lại, đồng thời bổ sung thêm niên đại mà Trương Quả Lão sinh ra, “ta sinh năm Bính Tý, thời vua Nghiêu, làm chức Thị trung”.
Trong những sách do triều đình triều Tống biên soạn như Thái Bình Quảng Ký, đã thu lục hoàn chỉnh các nội dung mà sử quan cho là quá thần kỳ, không thích hợp ghi chép trong sách sử. Đường Huyền Tông đi săn, bắt được một con hươu lớn, đầu bếp đang chuẩn bị giết hươu thì Trương Quả Lão nói: “Đây là con hươu Tiên, đã 1000 tuổi rồi, Trước đây năm Nguyên Thủ thứ 5 đời Hán Vũ Đế, ta từng tùy tùng [Vũ Đế], Vũ Đế bắt sống được con hươu này ở Thượng Lâm Uyển, sau đó đã thả nó ra”.
Đường Tông nói: “Hươu thì có rất nhiều, thời đại cũng đổi thay, làm sao có thể biết con hươu này chính là con hươu thời đó?”
Trương Quả Lão nói: “Khi Hán Vũ Đế thả hươu, đã dùng một miếng thẻ bài bằng đồng treo trên sừng trái của nó để đánh dấu”. Huyền Tông lệnh cho người kiểm tra, quả nhiên có một tấm thẻ bài bằng đồng nhỏ khoảng 2 thốn, trên có ghi ngày tháng.
Huyền Tông nói với Trương Quả Lão rằng: “Nguyên Thủ là năm nào?”. Trương Quả Lão nói: “Năm đó là năm Quý Hợi, Vũ Đế vừa mới bắt đầu đào hồ Côn Minh. Năm nay là năm Giáp Tuất, đã qua 852 năm rồi”. Huyền Tông lệnh cho quan Thái sử kiểm tra lại lịch, hoàn toàn không sai một ly. Huyền Tông càng cảm thấy thần kỳ.
Thời Tần Hán, Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế đều rất tin vào Đạo Pháp, cho rằng con người có thể thông qua tu luyện đạt được cảnh giới phản bổn quy chân. Thủy Hoàng phái Từ Thúc ra biển, tìm cầu Tiên Đạo, đã trở thành giai thoại thiên cổ. Hán Vũ Đế tôn Nho giáo làm quốc giáo, nhưng bản thân ông lại cả đời ngưỡng mộ Tiên Đạo. Chính sử vẫn luôn không ghi chép các cuộc gặp gỡ của ông với những người tu luyện đắc Đạo. Khi Tam giáo vừa mới nổi lên, việc phổ cập giáo hoa, hàm dưỡng đạo đức là căn bản, hoặc là do thời cơ chưa đến, cơ duyên chưa thành.
Thời kỳ đầu triều Đường, Đường Thái Tông có tấm lòng rộng lớn, như biển nạp trăm sông, đã thực thi nguyên tắc bao dung, lấy Nho giáo làm chính tông, Tam giáo đều coi trọng. Đường Thái Tông từng nói: “Những thứ mà Trẫm yêu thích ngày nay, duy chỉ có Đạo của Nghiêu Thuấn, và giáo lý của Chu Khổng (tức Chu Công và Khổng Tử)”. Từ đó đã xác lập rõ ràng Nho giáo là căn bản của quốc gia. Đồng thời, Đường Thái Tông còn đề xướng Phật giáo và Đạo giáo. Ông cũng nói rằng: “Lão Quân để lại hình mẫu, ý nghĩa ở thanh hư. Thích Ca để lại giáo huấn, giáo lý ở nhân quả. Tìm kiếm các giáo lý của nó, các sự tích viện dẫn khác nhau. Tìm kiếm cội nguồn của nó, đều có phong thái hoằng dương ích lợi”. [Thái Tông] cho rằng, Phật – Đạo có công dụng giáo hóa, làm tịnh hóa tâm linh, làm phong tục thuần hậu. Khi Đường Huyền Trang đi Tây Trúc cầu Pháp trở về, Đường Thái Tông đã rất coi trọng, cho phiên dịch kinh, gồm 75 bộ, 1335 cuốn, và Phật giáo đã được phát triển chưa từng có. Sau thời Thái Tông, các quân chủ khác nhau do các nguyên nhân khác nhau, mà mỗi người coi trọng một trong Tam giáo, nhưng về cơ bản là ai cũng tìm được vị trí của mình [trong 1 trong Tam giáo đó].
Đến thời đại Đường Huyền Tông, Đạo giáo phát triển huy hoàng. Năm Khai Nguyên thứ 9 (năm 721), Đường Huyền Tông nghênh đón Tư Mã Thừa Trinh vào Kinh, và đích thân nhận Pháp lục, trở thành vị hoàng đế đầu tiên có được tư cách Đạo sĩ. Năm Khai Nguyên thứ 10 (năm 722), Huyền Tông ban chiếu lệnh cho 2 kinh và các châu xây dựng đền Huyền Nguyên Hoàng Đế thờ Lão Tử và các trường học bồi dưỡng học sinh Đạo giáo – Sùng huyền học. Đến năm Khai Nguyên thứ 29 (năm 741), Sùng Huyền Học chính thức đổi tên thành Sùng Huyền Quán. Năm Khai Nguyên thứ 29 (năm 741) Huyền Tông ban chiếu chế tác tranh tượng Lão Tử, và ban phát cho khắp thiên hạ. Năm Khai Nguyên thứ 21 (năm 733), Huyền Tông đích thân chú giải Đạo Đức Kinh, quy định Đạo Đức Kinh đứng đầu các Đạo kinh, và đưa Đạo Đức Kinh vào phạm vi thi cử. Năm Khai Nguyên thứ 25 (năm 737), quy định chế độ Đạo cử. Năm Khai Nguyên thứ 29 (năm 741), quy định 2 kinh và các châu đều tôn sùng Đạo học, lập ra khoa thi, lấy Đạo Đức Kinh, Trang Tử, Liệt Tử và Văn Tử để thi chọn người.
Một loạt các biện pháp thời kỳ Thịnh Đường này đã tạo dựng nền móng vững chắc để chúng sinh hiểu văn hóa tu luyện.
(Còn tiếp)
Bản quyền © 1999-2025 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.
Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2025/9/25/499705.html
Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2025/11/13/231301.html


