[MINH HUỆ 10-12-2016] Chu Thường (1482-1539) sinh ra ở Sa Hà, tỉnh Hà Bắc vào triều Minh. Ông là một người khôn ngoan và chính trực. Ông đã từng giữ chức quan Tuần án ngự sử trong nhiều năm, sau đó làm phó Đô ngự sử. Ông luôn phụng sự chính nghĩa, được bách tính ca ngợi là một vị quan thanh liêm.

Năm 1515, Chu Thường được bổ nhiệm làm Tuần diêm ngự sử, quản lý ngành muối ở Hà Đông. Đương thời, cẩm y vệ thân tín của Minh Vũ Tông là Tiễn Ninh, cậy quyền cậy thế nên đã hống hách ngang ngược, phái người buôn lậu muối để mưu lợi mà không ai dám ngăn cản.

Khi Chu Thường đến, ông đã kiểm tra và nghiêm cấm không cho những người này buôn lậu muối nữa. Ông đã nhất định chiểu theo pháp luật để trừng phạt họ.

Chu Thường luôn chú trọng giáo hóa dân chúng và quan tâm đến đời sống của trăm họ. Ông đã viết bài thơ “Lao diêm thi” sau khi tận mắt chứng kiến người dân làm muối vất vả như thế nào dưới cái nắng gay gắt của mùa hè. Trong bài thơ, ông đã miêu tả chân thực và sinh động cuộc sống lao dịch nặng nhọc của mười vạn phu muối do nhà Minh cưỡng bách tới làm việc tập trung trên các ruộng muối, và nỗi nhớ nhà tha thiết của họ. Ông cũng biểu đạt sự đồng cảm sâu sắc đối với nỗi vất vả nhọc nhằn của những người này.

Minh Vũ Tông là người phóng đãng ngông cuồng và không quan tâm tới triều chính. Ông ta trọng dụng hoạn quan và để bọn chúng chuyên quyền điều hành chính sự.

Vương Tương là một quan Giám sát ngự sử thanh liêm và cương trực. Khi ông đi tuần tra ở Sơn Đông, phát hiện thấy hoạn quan Lê Giám mượn danh Hoàng đế để vơ vét và bóc lột dân chúng ở đó. Dân chúng lầm than không sao kể xiết, tiếng oán thán dậy khắp đất trời.

Vương Tương vạch tội Lê Giám đã làm rối loạn kỷ cương phép nước. Lê Giám chối tội trước mặt Hoàng thượng và còn vu oan hãm hại Vương Tương khiến Vương Tương bị đọa vào lao ngục.

Sau khi Chu Thường đi tuần ở bên ngoài trở về triều đình, biết được sự thật là Vương Tương đã bị vu oan hãm hại, ông liền dâng hai bản tấu lên Hoàng thượng. Một bản trình bày việc oan khuất của Vương Tương và một bản vạch trần 8 tội trạng của Lê Giám. Chu Thường cũng khuyên Hoàng thượng phân biệt được đúng và sai, trung thần và gian thần. Cuối cùng Hoàng thượng đã miễn tội chết cho Vương Tương và giáng chức ông ta đi làm phán quan ở Giang Tô.

Minh Vũ Tông trọng dụng gian thần Giang Bân, dung túng cho hắn ta cướp đoạt ruộng đất của nông dân để xây dựng điền trang cho Hoàng đế ở khắp mọi nơi. Giang Bân xúi giục Minh Vũ Tông đi tuần du ở bên ngoài. Hoàng đế bỏ bê triều chính hàng tháng trời và chơi bời phóng đãng ở ngoài. Khi rất nhiều văn võ bá quan đều dâng tấu thư can gián, khuyên nhủ Hoàng đế trở về Hoàng cung lo việc triều chính, Minh Vũ Tông liền nổi giận. Ông ta hạ lệnh nhốt 40 người vào ngục, bắt 170 người phải quỳ trước Ngọ môn trong năm ngày, và đánh 146 người bằng roi ở trên triều đình.

Lúc bấy giờ Chu Thường đi tuần ở bên ngoài trở về kinh, sau khi nghe được chuyện này, ông không màng tới được mất của bản thân mình mà quyết chí dâng lên một tấu thư khuyên can Minh Vũ Tông “chính tâm, ngừng chơi bời, ở gần người quân tử, tránh xa kẻ tiểu nhân”. Chu Thường còn thẳng thắn yêu cầu Hoàng đế ban chiếu thư tự trách mình, thừa nhận sai lầm của mình và tạ tội với lê dân bách tính.

Hoàng đế lập tức giáng chức Chu Thường và đày ông đến một vùng xa xôi hẻo lánh nhậm chức tri phủ. Tại hoàn cảnh đó, Chu Thường đã dũng cảm can gián, không sợ cường quyền, lo lắng cho đất nước và dân chúng, vì thiên hạ mà quyết hoàn thành trách nhiệm lịch sử của mình.

Chu Thường bị đày tới Củng Xương (thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay), là một vùng đất xa xôi lạc hậu, đã bị hạn hán và ôn dịch hoành hành trong nhiều năm, lại bị tộc người ở phía Tây tấn công, bách tính vô cùng khốn khổ. Sau khi Chu Thường đến nhậm chức, ông thành kính hướng lên trời cầu mưa. Trời liền mưa to liên tục trong mười ngày, chấm dứt tình trạng hạn hán. Trước tiên ông chế phục tộc người ở phía Tây, bình định biên giới, tạo dựng một môi trường sống yên ổn cho dân chúng. Tiếp theo ông kiến lập các quy định, thi hành giáo dục, khuyến khích sinh sản.

Không lâu sau, vùng đất này trở nên an cư lạc nghiệp, diện mạo của toàn vùng có sự thay đổi to lớn. Sau khi Minh Thế Tông lên ngôi Hoàng đế, triều đình khảo sát lại hoạt động của các quan lại, Chu Thường là tri phủ tốt nhất, được triều đình khen ngợi.

Trong những năm Gia Tĩnh, Chu Thường được phái tới Chiết Giang nhậm chức Đề đốc lương trữ, sau đó là chức Tả bố chính sử, rồi đến chức Phó đô ngự sử. Ông đã giảm các loại sưu cao thuế nặng, loại bỏ những kẻ gian thần, ngăn chặn các việc làm bất hợp pháp, chấn chỉnh tác phong của các quan lại ở Chiết Giang, khiến cho tham quan ô lại không còn chỗ nương thân. Sau khi nhậm chức Phó đô ngự sử, ông đã đôn đốc và giám sát việc trị thủy trên toàn quốc. Vì sông Hoàng Hà hay có lũ lụt gây thiệt hại lớn về sinh mệnh và tài sản của nhân dân, nên ông đã đề xuất nhiều kế sách để trị thủy trên sông Hoàng Hà, tự mình tham gia vào việc thi công và giám sát xây dựng đường sông.

Cha của Chu Thường đã sống một cuộc đời vô cùng thanh đạm, ông rất tiết kiệm trong ăn uống và sinh hoạt. Ông chỉ có một cái bát ăn cơm, một bộ y phục và một cái giường. Một người bạn của Chu Thường thấy gia cảnh của người cha bần hàn, liền tặng cho ông một bộ y phục mới nhân dịp mừng thọ ông, nhưng ông đã kiên quyết từ chối.

Cha của Chu Thường không chỉ cần kiệm đối với chính mình, mà ông cũng yêu cầu vô cùng nghiêm khắc đối với con trai. Ông liên tục nhắc nhở Chu Thường phải nhìn vào tài đức của những bậc thánh hiền, phải liêm khiết và chính trực. Chính vì vậy mà Chu Thường cũng luôn giản dị trong sinh hoạt, trong suốt những năm làm quan ông đều giữ mình trong sạch và thanh liêm. Khi cha của ông qua đời, Chu Thường trở về nhà chịu tang cha. Nhà của ông vẫn là một cái lều tranh, không có tu sửa gì, và cũng không được cơi nới thêm một mẫu đất nào.

Mặc dù Chu Thường nghèo túng, nhưng ông vẫn luôn luôn cố gắng hết sức giúp đỡ bà con thôn xóm, cứu giúp những người túng quẫn. Mọi người đều quý trọng nhân phẩm của ông: thanh liêm, thương dân, dám lên tiếng vì chính nghĩa. Tại quê nhà của ông, họ đã xây dựng “Vô quý đình” (đình “không hổ thẹn”) để biểu dương công đức và sự nghiệp của công, đã để lại tiếng thơm muôn đời.

(Theo Minh sử)


Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2015/12/1/319909.html

Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2015/12/10/154017.html

Đăng ngày 22-01-2016; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share