Bài của Tiêu Ngọc

[MINH HUỆ 7-2-2010] Trong cuộc sống thường ngày, quan niệm nam tả nữ hữu đã trở thành tự nhiên trong nhiều mặt của đời sống xã hội. Tập tục này được sinh ra như thế nào? Theo truyền thuyết, sau khi thủy tổ Bàn Cổ của dân tộc Trung Hoa biến thành Tiên, thì các bộ phận trên thân thể ông hóa thành thần Mặt Trời và thần Mặt Trăng, thành Tứ Cực và Ngũ Nhạc, sông hồ cho đến sinh linh vạn vật. “Ngũ vận lịch niên ký” cho rằng: 2 vị thần Mặt Trời và thần Mặt Trăng là do 2 mắt của Bàn Cổ biến hóa thành, thần Mặt Trời là do mắt trái, còn thần Mặt Trăng là từ mắt phải hóa thành. Trong dân gian lưu truyền “Nam tả nữ hữu” chính là do câu chuyện này.

Tập tục “Nam tả nữ hữu” cùng với triết học của người xưa có quan hệ vô cùng mật thiết. Theo khái niệm của văn hóa truyền thống, trong vũ trụ có 2 mặt đối lập là Âm – Dương quán thông trong toàn bộ các sự vật. Sự vật trong giới tự nhiên có lớn bé, dài ngắn, trên dưới, trái phải, vv… Cổ nhân phân chia chúng: lớn, dài, trên, bên trái là Dương; còn nhỏ, ngắn, dưới, bên phải là Âm. Người có tính dương thì kiên cường cứng cỏi, người có tính âm thì nhu nhược mỏng manh. Tính cách của con người, thì nam giới kiên cường mạnh mẽ thuộc về dương, bên trái; còn nữ nhi dịu dàng mỏng manh thuộc về âm, bên phải. Trong y học cũng có sự khác biệt “Nam tả nữ hữu” như thế. Y học cổ truyền Trung Quốc khi bắt mạch, thì nam giới có phần khí nằm ở mạch tay trái, còn nữ giới có phần máu huyết nằm ở mạch bên tay phải.

Thực ra “Nam tả nữ hữu” có khởi nguồn từ học thuyết Âm Dương của Đạo gia. Trong học thuyết Âm Dương, hướng về Mặt Trời thì là dương, đối nghịch với Mặt Trời thì là âm, sau này mở rộng ra thành sự nóng lạnh của khí hậu, phương vị cao hay thấp, trái phải, trong ngoài, trạng thái vận động hay tĩnh lặng, vv… Học thuyết Âm Dương cho rằng, bất kỳ sự vật nào trong giới tự nhiên đều bao gồm yếu tố Âm và Dương, vừa tương hỗ mà cũng vừa đối lập lẫn nhau trong một thể thống nhất. Vận động vừa đối lập vừa thống nhất của Âm Dương, là nguyên nhân cơ bản của tất cả những sự phát sinh, phát triển, biến hóa cho đến tiêu vong của mọi sự vật. Trong sách “Tố vấn: Âm Dương ứng tượng đại luận” có nói: “Âm Dương giả, thiên địa chi Đạo dã, vạn vật chi cương kỷ, biến hóa chi phụ mẫu, sinh sát chi bổn thủy”. (Tạm dịch: Âm Dương là Đạo của Trời Đất, là kỷ cương của vạn vật, là cha mẹ của mọi biến hóa, là cơ sở của sự sinh tồn hay diệt vong)

Âm và Dương, có thể biểu hiện cho sự đối lập với nhau của các sự vật, cũng có thể dùng để phân tích những mặt đối lập tồn tại bên trong một sự vật nào đó. Thông thường mọi vận động mạnh mẽ, hướng ra ngoài, lên cao, ấm áp, sáng ngời, đều thuộc về dương. Tương đối tĩnh tại, hướng vào trong, hạ xuống, rét lạnh, u ám đều thuộc về âm. Nói về Trời Đất, thì thiên khí nhẹ nhàng thanh tao là dương, địa khí nặng nề mờ đục là âm. Nói về nước lửa, thì tính nước lạnh mà nhuận thuộc về âm, còn lửa tính nóng mà gay gắt thuộc về dương.

Học thuyết Âm Dương nhìn nhận rằng: ngũ hành gồm có Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy là quan hệ biến hóa cơ bản của nó. Ngũ hành sinh ra lẫn nhau, chế ước lẫn nhau, nằm trong vòng biến hóa vận động không ngừng nghỉ. Học thuyết này đối với triết học cổ đại về sau có ảnh hưởng rất lớn: như thiên văn học, khí tượng học, hóa học, toán học, âm nhạc và y học, đều là nhờ ở học thuyết Âm Dương ngũ hành mà phát triển đi lên.

“Thái Cực đồ thuyết” của Chu Đôn Di có đoạn miêu tả như sau: “Vô cực sinh Thái Cực. Thái Cực động sinh ra Dương, động đến cực điểm thì sẽ tĩnh, tĩnh thì sinh Âm, tĩnh đến cực điểm thì lại động. Một động tương ứng với một tĩnh, làm căn bản và động lực cho nhau”. Do vậy “Dịch có Thái Cực, sinh ra Lưỡng Nghi”. “2 khí Âm Dương giao cảm, hóa sinh vạn vật. Vạn vật sinh sôi, biến hóa vô cùng”. Đó chính là những diễn giải hoàn chỉnh nhất về khái niệm Âm Dương của các nhà Dịch học thời cổ đại. Khái niệm “Nam tả nữ hữu” cũng là phương thức biểu hiện của Âm Dương trong văn hóa truyền thống.


Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2010/2/7/217683.html
Bản tiếng Anh: http://en.minghui.org/html/articles/2010/3/24/115543.html
Đăng ngày 15-04-2010; bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai cho sát hơn với nguyên bản.