Văn hóa & Nghệ Thuật - Minh Huệ Nethttps://vn.minghui.org/newsPháp Luân Đại Pháp (Pháp Luân Công)Sun, 29 Dec 2024 00:47:10 +0000en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.5.3Luận đàm từ một sự kiện không phù hợp khoa họchttps://vn.minghui.org/news/273888-luan-dam-tu-mot-su-kien-khong-phu-hop-khoa-hoc.htmlSun, 15 Dec 2024 11:09:48 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=273888[MINH HUỆ 14-10-2024] Ngày 1 tháng 6 năm 1983, một tiểu đội quân Nhật xâm lược Trung Quốc từ Hào Châu, An Huy tiến vào huyện thành Lộc Ấp, tỉnh Hà Nam. Ở một làng cách huyện thành khoảng 3 dặm, quân Nhật quan sát được góc Đông […]

The post Luận đàm từ một sự kiện không phù hợp khoa học first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của Hiểu Độ (Trung Quốc)

[MINH HUỆ 14-10-2024] Ngày 1 tháng 6 năm 1983, một tiểu đội quân Nhật xâm lược Trung Quốc từ Hào Châu, An Huy tiến vào huyện thành Lộc Ấp, tỉnh Hà Nam. Ở một làng cách huyện thành khoảng 3 dặm, quân Nhật quan sát được góc Đông Nam và Đông Bắc của huyện thành có kiến trúc khá cao, nghi là công sự quân sự, bèn quyết định trước tiên pháo kích phá hủy 2 cứ điểm này. Pháo thủ Taro Umekawa trước tiên pháo kích phá hủy kiến trúc góc đông nam (Khôi Tinh Lâu). Sau đó Taro pháo kích kiến trúc góc đông bắc (Lão Quân Đài), bắn liền mấy phát đạn pháo mà không thấy nổ, cảm thấy không thể nào hiểu nổi, bèn bắn một trái pháo vào trong thành để nghiệm chứng, kết quả là nổ bình thường. Taro lại hướng vào công trình kiến trúc đó bắn pháo, nhưng vẫn không thấy có tiếng nổ, bắn 12 phát đạn pháo đều không nổ. Tiểu đội trưởng đích thân bắn một quả đạn pháo cũng không nổ, tổng cộng là bắn 13 quả đạn pháo.

1. Sự kiện dường như không thể xảy ra trong xác suất học

Quân Nhật tiến vào huyện thành Lộc Ấp, phát hiện tòa đài cao và phòng ốc này thờ phụng tượng Lão Tử của Đạo gia, không khỏi kinh ngạc kêu lên: “Đây là tổ tông Trung Quốc hiển linh”. Toàn bộ quân Nhật quỳ trước tượng Lão Quân dập đầu tạ tội.

图1:河南省周口市鹿邑县老君台
Ảnh 1: Lão Quân Đài huyện Lộc Ấp thành phố Chu Khẩu tỉnh Hà Nam

Huyện Lộc Ấp tỉnh Hà Nam tương truyền là quê nhà của Lão Tử, tòa kiến trúc góc đông bắc trong thành tên là “Thăng Tiên Đài”. Những năm triều Tống, hoàng đế truy phong Lão Tử là “Thái Thượng Lão Quân Hỗn Nguyện Thượng Đức Hoàng Đế”, do đó cũng gọi là “Lão Quân Đài”. Đài cao 13 mét, phần đế chiếm diện tích 764 mét vuông. Đài có tổng cộng 33 tầng bậc thanh, trong chính điện thờ phụng một pho tượng Lão Tử bằng đồng. Trong sân còn có các Thần vật như bia khắc, cột thép v.v.

图2:东山墙及树杈间弹孔
Ảnh 2: Những lỗ đạn pháo trên tường phía đông và trên thân cây

Đạn pháo quân Nhật bắn trúng bức tường phía đông của đại điện, bức tường lệch đông của hậu điện, một viên đạn pháo kẹt trên trạc cây của cây bách phía đông điện, 2 viên xuyên vào bức tường đại điện: 1 viên kẹt trên dầm mái, 1 viên rơi vào Thần kham trước tượng Lão Quân. Khoảng năm 2003, nhân viên thi công khi tu sửa những chỗ bị đổ nát góc tây nam của Lão Quân Đài, đào được 1 quả đạn pháo đã bị rỉ sét của quân Nhật, sau này kích nổ. Đến đây thì toàn bộ 13 quả pháo của quân Nhật đã được tìm thấy. Sau đại điện còn có 2 điện nhỏ, khi đó quân trấn thủ đã tồn trữ đầy thuốc súng trong một căn điện nhỏ, một khi bị kích nổ thì sức tàn phá cực kỳ lớn.

图3:哑弹及说明
Ảnh 3: Những viên đạn pháo không nổ và thuyết minh

13 viên đạn pháo bắn vào Lão Quân Đài đều không nổ, thực sự là không thể tượng tượng nổi, thực sự là chuyện kỳ lạ, mọi người chưa có được lời giải thích, thường cũng không đi sâu nghiên cứu nữa. Nhưng có một số người lại tin rằng, đây là Lão Quân hiển linh, Thần can thiệp, có Thần hộ Pháp, không cho phép nó nổ.

Nhìn từ góc độ xác suất học, cũng là không thể tưởng tượng nổi, xác suất 13 phát đạn pháo liên tiếp đều không nổ hầu như bằng 0. Cụ thể, chúng ta hãy cùng xem:

图4:炮弹图例
Ảnh 4: Sơ đồ các trường hợp đạn pháo

Tính một cách rộng rãi nhất, chúng ta giả thiết tỷ lệ đạn pháo không nổ là 40% (tức là cứ 10 viên đạn thì có 4 viên không nổ), sau đây chúng ta sẽ nhìn thấy, đặt giá tỷ lệ không nổ cao thì càng có tính thuyết phục.

Khi bắn một viên không nổ, thế thì bắn viên thứ hai, viên thứ hai không nổ thì bắn viên thứ ba, chẳng phải là tăng tỷ lệ thành công đó sao?

Do đó chúng tôi nghĩ ra một mô hình “song song”, vì hệ thống song song có thể tăng tính tin cậy. Xuất phát từ việc để độc giả dễ lý giải và trực quan, chúng tôi vẽ sơ đồ. Một nhánh đại biểu một phát đạn pháo, hai nhánh song song biểu thị hai phát đạn pháo. Một phát đạn pháo, tỷ lệ thành công là 60% (vì tỷ lệ không nổ là 40%). Tỷ lệ thành công tức là tính tin cậy. Tính tin cậy và tỷ lệ không nổ là bổ sung lẫn nhau, hoặc nói là loại trừ lẫn nhau, không dung hòa nhau, tổng của hai cái đó là 1. Tỷ lệ thành công = 1 – Tỷ lệ không nổ.

Tỷ lệ thành công khi bắn hai phát đạn pháo là K-84%, tỷ lệ thành công khi bắn ba phát đạn pháo là K-94%, bốn phát là K-97%, đến phát thứ năm, tỷ lệ thành công đạt 99%. Cũng có nghĩa là, tỷ lệ thành công rất cao rồi, nếu bắn 13 phát, thì hầu như là không thể có chuyện không nổ.

Giả sử chúng ta lấy tỷ lệ đạn pháo không nổ là 20% (tức tỷ lệ thành công K=80%), thì bắn ba viên đạn, tỷ lệ thành công K=96%, đến viên thứ ba, tỷ lệ đã đạt 99% rồi. Do đó nói, cho dù tỷ lệ không nổ cao đến 40%, thì cũng chỉ cần năm quả đạn pháo là đã “giải quyết được vấn đề” rồi. Nhưng thực tế, tỷ lệ đạn pháo không nổ không cao như thế này.

Nhưng sự kiện Lão Quân Đài này lại trái với quy luật xác suất học, dường như đã cho lý thuyết xác suất một cái tát.

Bởi vì tính tỷ lệ không nổ của hệ thống song song là rất dễ, nó là tích của các tỷ lệ không nổ của các mạch nhánh. Còn tỷ lệ thành công (tính tin cậy), chỉ cần dùng 1 trừ đi tỷ lệ không nổi là xong.

2. Khoa học hiện đại nhỏ hơn chân lý của vũ trụ rất nhiều

图5:附在墙上的记述老君台事件的说明
Ảnh 5: Bản thuyết minh kể về sự kiện Lão Quân Đài dán trên tường

Phương pháp luận của nghiên cứu khoa học cho rằng, một lý thuyết chỉ cần có một trường hợp trái ngược xuất hiện là có thể bị lật đổ. Trong sự kiện Lão Quân Đài, chẳng phải xác suất học đã vô hiệu đó sao? Tôi cho rằng đúng là như thế. Nhưng tôi không tinh thông về xác suất học, nên cũng không ra ra luận đình 100%.

Vậy tại sao xác suất học lại được ứng dụng rộng rãi trong hiện thực? Tôi nhìn nhận thế này: Chúng ta thừa nhận xác suất học có ứng dụng hiệu quả trong hiện thực, nhưng xác suất học không bao quát và giải thích được tất cả mọi hiện tượng. Sở dĩ xác suất học có hiệu quả ở những phương diện đó, là vì phương diện đó phù hợp với quy luật vũ trụ ở tầng thứ đó. Còn ở phương diện và tầng thứ cao hơn như sự kiện Lão Quân Đài, thì nó không thích hợp nữa. Đằng sau việc này đều có phép tắc vũ trụ khống chế, cũng là Thần khống chế.

Quan điểm cơ bản của xác suất học cho rằng: Các sự kiện xảy ra ở nhân loại “đều là sự kiện tùy cơ”. Chúng tôi trải qua nhiều năm học Pháp Luân Đại Pháp, có những nhận thức khác nhau đối với thế giới, nhìn những sự kiện của nhân loại là “tùy cơ”, ngẫu nhiên, nhưng không có việc nào ngẫu nhiên cả, đều là có nguyên nhân. Sự vận hành của nhân loại chính là một vở kịch, đến bước nào diễn cái gì, mỗi sự kiện xuất hiện chính là một vai diễn đã được an bài. Cuộc đời của một người là chiểu theo sự an bài đó, mỗi sự tình cũng là có tiền nhân hậu quả. Bạn đã nhìn thấy sa mạc cao nguyên xảy ra lũ lụt chưa? Nó đã xảy ra rồi đó. Bão đã gây ra tổn thất to lớn cho ba tỉnh Đông Bắc Trung Quốc. Còn có các hiện tượng như nước sông chảy ngược v.v., cũng đều đã xuất hiện rồi. Tai họa của nhân loại đều là lời cảnh cáo của Thượng Thiên đối với con người, con người cần phản tỉnh bản thân mình.

Cơ học Newton cũng được mọi người công nhận và sử dụng, nhưng nó không thể giải thích được hiện tượng con người bay lên, do đó nó không phải nguyên nhân chân thực của vũ trụ. Hiện tượng con người bay lên là có rất nhiều ghi chép rồi.

3. Sai một ly đi một dặm

Khoa học hiện đại cũng là không ngừng đổi mới, thậm chí lật đổ những nhận thức trước đây, mặc dù như vậy, nó cũng chưa nhận thức được chân tướng của vũ trụ. Khoa học hiện đại là đứng ở góc độ nhân loại, hoặc nói là những gì mắt thường nhìn thấy để quan sát thế giới, bài xích Thần, còn không gian bề mặt của nhân loại lại là không gian mê, là tương phản với chân tướng của vũ trụ, do đó khoa học hiện đại không chỉ có rất nhiều sai lầm, mà còn vĩnh viễn sẽ không đạt đến độ cao của chân lý vũ trụ.

Trong lịch sử khoa học, thường là, một lý thuyết giải thích được cái này thì không giải thích được cái kia, được cái này thì mất cái kia, thường đều là thầy bói xem voi. Muốn giải thích hoàn mỹ tất cả mọi thứ của nhân loại, duy chỉ có lấy việc tín Thần làm cơ điểm, thông qua tu luyện chân chính, đề cao cảnh giới tâm tính, từng bước đồng hóa với chân lý vũ trụ Chân Thiện Nhẫn, từ đó liễu ngộ được chân lý vũ trụ.

Rất nhiều người cho rằng “Chân Thiện Mỹ” rất tốt, kỳ thực cái Mỹ mà người thường nói đó chính là người thường không thực sự lý giải hàm nghĩa chân chính của Nhẫn thì mới nói như vậy. “Mỹ” trong xã hội người thường hoàn toàn không thể nào sánh được với Nhẫn trong chân lý vũ trụ, sao có thể nói đến việc thay thế được? Trong xã hội nhân loại, biểu đạt thiện tính thì Mỹ là Mỹ – tốt đẹp, còn biểu đạt tà mị và ác, tuy có mượn danh nghĩa của Mỹ, thực chất là rất xấu, là ác, là ma tính, là hại người hại mình.

Vậy Nhẫn là gì? Giống như rất nhiều người, không cần nghĩ ngợi gì, cho rằng Nhẫn chỉ có nghĩa là khó chịu, đau đớn, oan ức sao? Hoàn toàn không phải như vậy…

Mỹ và Nhẫn, sai khác một chữ, đâu chỉ là “sai một ly đi một dặm”!

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/10/24/484106.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2024/12/3/221919.html

Đăng ngày 15-12-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post Luận đàm từ một sự kiện không phù hợp khoa học first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
“Lập đông”: Vạn vật ẩn tàng, nuôi dưỡng tinh nhuệhttps://vn.minghui.org/news/273680-lap-dong-van-vat-an-tang-nuoi-duong-tinh-nhue.htmlSat, 07 Dec 2024 15:18:22 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=273680[MINH HUỆ 04-11-2024] [Ký giả Nhan Phác Phương của Cửa sổ Minh Huệ tổng hợp biên tập] Nóng đi lạnh đến, thu thu hoạch, đông tàng trữ. Tiết khí cuối cùng của mùa thu là Sương giáng vừa qua, tiếp theo sẽ là Lập đông. Lập đông là khởi đầu của mùa đông, là tiết […]

The post “Lập đông”: Vạn vật ẩn tàng, nuôi dưỡng tinh nhuệ first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
[MINH HUỆ 04-11-2024] [Ký giả Nhan Phác Phương của Cửa sổ Minh Huệ tổng hợp biên tập] Nóng đi lạnh đến, thu thu hoạch, đông tàng trữ. Tiết khí cuối cùng của mùa thu là Sương giáng vừa qua, tiếp theo sẽ là Lập đông.

Lập đông là khởi đầu của mùa đông, là tiết khí thứ 19 trong 24 tiết khí, mặt trời đi đến vị trí 225 độ trên đường Hoàng đạo, hàng năm bắt đầu từ ngày 7 hoặc 8 tháng 11 Dương lịch. Ngày Đông chí năm 2024 là ngày 7/11.

2024-11-3-203806-0--ss.jpg

“Mùa xuân cày cấy, mùa hạ làm cỏ, mua thu thu hoạch, mùa đông tàng trữ”, đó là những việc lớn trong 1 năm ở xã hội cổ đại. “Tứ Lập” trong 24 tiết khí là Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông, là những ngày lễ tiết quan trọng. “Chu bễ toán kinh – Quyển hạ” có viết rằng: “Tứ Lập, là bắt đầu của sinh sôi, phát triển, thu hoạch, tàng trữ”. Lập tức khởi đầu kiến tạo, bắt đầu từ đây. Hoàng lịch Trung Quốc coi Tứ Lập là khởi đầu của 4 mùa.

“Nguyệt lệnh 72 hậu tập giải” có viết rằng: “Mùa đông là kết thúc, vạn vật ẩn tàng”. Ý nghĩa là sự hoạt động của vạn vật đi đến dừng nghỉ, động vật tàng ẩn chuẩn bị ngủ đông, nuôi dưỡng tinh nhuệ, chuẩn bị để mùa xuân sang năm bừng bừng sức sống. Cây trồng cũng thu hoạch phơi xong, tàng trữ trong kho. Người nông dân trải qua 1 năm lao động cày cấy vất vả, nhân ngày đông nông nhàn, nghỉ ngơi dưỡng sức, phục hồi nguyên khí.

'农作物收晒完毕、收藏入库。(清 黄钺《春台熙皋・册・玉粒冬藏》,台北故宫博物院)'
Cây trồng cũng thu hoạch phơi xong, tàng trữ trong kho. (Tranh Tàng trữ thóc mùa đông của Hoàng Việt đời Thanh – Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc)

Đặc sắc Lập đông: Mưa thuốc giết các loài côn trùng

Thời tiết Lập đông rất quan trọng đối với nông dân cổ đại. Khi đó chưa có dự báo thời tiết, các cụ già ở nông thôn căn cứ vào việc quan sát mưa, nắng, hướng gió vào ngày này, đã tổng kết ra “Mùa đông có lạnh hay không, hãy xem ngày Lập đông”.

Rốt cuộc là xem như thế nào? Một số câu tục ngữ lưu truyền đã lâu, qua đó có thể biết được vài phần, như: “Lập đông có mưa, phòng mùa đông giá lạnh; Lập đông không mưa, phòng mùa xuân hạn hán”; “Lập đông tạnh nắng, cả mùa đông băng giá; Lập đông âm u, cả mùa đông ấm áp”; “Lập đông có gió bắc, áo da đắt như vàng; Lập đông có gió nam, áo da treo góc nhà”.

Mưa vào thời gian giữa tiết Lập đông và Tiểu tuyết, có tên gọi đặc biệt là “mưa thuốc” hoặc “mưa dịch”.

“Bản thảo cương mục – Thủy bộ” của Lý Thời Trân đời Minh có ghi chép rằng: “Ngày thứ 10 sau Lập đông là nhập dịch, đến Tiểu tuyết là xuất dịch, có mưa gọi là mưa dịch, cũng gọi là mưa thuốc. Các loài côn trùng uống nước mưa này đều ẩn tàng ngủ đông, đến mùa xuân sấm nổi lên mới xuất hiện”. Lý Thời Trân còn nói rằng, mưa thuốc có thể “giết các loài côn trùng, thích hợp dùng để đun thuốc sát trùng”. Ý nghĩa là các loài côn trùng uống nước mưa này đều ẩn tàng ngủ đông, cho đến mùa xuân năm sau khi có tiếng sấm thì mới xuất hiện, do đó gọi là mưa thuốc, có thể dùng để giết các loài côn trùng hoặc đun thuốc sát trùng”.

Ba dấu hiệu Lập đông

Lập đông là tiết trong tháng 10 Hoàng lịch. Bài thơ “Vịnh 24 khí thi – Lập đông thập nguyệt tiết” của Nguyên Chẩn – thi nhân đời Đường, có viết rằng: “Sương giáng lạnh thân người, băng nhẹ nước sạch đầy. Bóng trăng dần hao mòn, mấy hàng nhạn về Nam. Ruộng đồng đã thu hoạch, áo ấm cũng làm xong. Gà đồng chui xuống nước, hóa ngao sò không khó”. Mấy câu thơ này đã miêu tả chính xác dấu hiệu cảnh vật Lập đông.

Dấu hiệu thứ nhất: Nước bắt đầu thành băng

Dấu hiệu thứ hai: Đất bắt đầu đông kết

Dấu hiệu thứ ba: Gà đông xuống nước thành ngao sò. Sau tiết Lập đông, không nhìn thấy gà đồng nữa, còn bên bờ biển lại xuất hiện ngao sò có hoa văn và màu sắc giống như màu lông gà đồng, do đó người xưa cho rằng, sau Lập đông, gà đồng biến thành ngao sò.

'唐代诗人元稹的《咏廿四气诗・立冬十月节》贴切地描写了立冬物候:“霜降向人寒,轻冰渌水漫。”(瑞士法轮功学员摄影作品)'
“Vịnh 24 khí thi – Lập đông thập nguyệt tiết” của Nguyên Chẩn, thi nhân đời Đường đã miêu tả chính xác dấu hiệu của Lập đông rằng ““Sương giáng lạnh thân người, băng nhẹ nước sạch đầy”. (Ảnh của học viên Pháp Luân Công Thụy Sĩ)

Tập tục Lập đông

Giao tế nghênh đông

Trong xã hội cổ đại, hoàng đế thực hiện nghi lễ ra ngoại ô đón mùa đông, đồng thời ban thưởng y phục mùa đông cho quần thần, chăm sóc người cô quả.

“Lễ ký – Nguyệt lệnh” có ghi chép rằng: “Ngày Lập đông, Thiên tử đích thân dẫn Tam công, Cửu khanh, các quan đại phu để đón mùa đông ở ngoại thành phía bắc. Khi trở về, ban thưởng cho người chết vì việc công, chăm sóc người cô quả”. “Tế Thần Đất vùng Thần Châu ở ngoại ô phía bắc”.

Ngày Lập đông, Thiên tử dẫn bá quan đến ngoại ô phía bắc đón mùa đông, cúng tế Thần Đất. Sau khi hồi cung, còn chăm sóc vỗ về gia quyến người chết vì việc công, và người cô quả. Ba ngày trước Lập đông, viên quan cai quản lịch pháp cúng tế sẽ báo cáo với hoàng đế ngày Lập đông, hoàng đế bắt đầu tắm gội trai giới. Ngày Lập đông, hoàng đế dẫn Tam công, Cửu khanh đến ngoại ô phía bắc (Bắc giao) để cúng tế nghênh đón mùa đông. Sau khi trở về, còn ban thưởng lớn để vỗ yên xã tắc. Hoàng đế sẽ ban áo da cho bề tôi và gia quyến của họ. Hoàng đế hiền đức còn phát đồ cứu tế cho người dân nghèo, để họ vượt qua mùa đông dễ chịu hơn.

'天坛是中国古代帝王祭天的场所。自天坛建成至今,曾有23位皇帝在此举行过682次祭祀大礼。(公有领域)'
Thiên Đàn là nơi các đế vương Trung Quốc cổ đại tế Trời. Từ khi xây dựng cho đến nay, đã có 23 hoàng đế cử hành 682 đại lễ tế tự ở Thiên Đàn.

Ngày Lập đông, nông dân tế tự vui mừng thu hoạch, một số khu vực có tập tục tế tổ tiên, mở yến tiệc được mùa v.v. Ý nghĩa của Lập đông đối ứng với suy nghĩ của xã hội nhân văn, là mùa cảm tạ ân huệ, tôn kính Trời Đất và tu đức, thương sót sinh mệnh.

Dự trữ rau mùa đông

Ở miền bắc Trung Quốc, khi Lập đồng, trời lạnh nước đóng băng, đã tiến vào thời kỳ rau quả không sinh trưởng. “Đông Kinh mộng hoa lục” có ghi chép rằng, kinh thành thời kỳ Bắc Tống là Biện Kinh (tức Khai Phong ngày nay), trên đến hoàng cung, dưới đến dân gian, đều bắt đầu dự trữ lương thực và rau vào thời gian Lập đông để chuẩn bị sống trong qua mùa đông. Trước ngày Lập đông, trên đường giao thông bận rộn, đầy những ngựa xe, lạc đà chở đầy thực phẩm để sống qua mùa đông, tạo thành quang cảnh tiết Lập đông.

Ăn sủi cảo

Miền bắc Trung Quốc có tập tục Lập đông ăn sủi cảo, vì Cảo và Giao gần âm, do đó có câu nói rằng, lúc giao thời giờ Tý ăn sủi cảo. Mới cũ bàn giao vào giờ Tý, ban đêm vào giờ Tý là giao thời giữa ngày cũ và ngày mới, giờ Tý Lập đông là giao thời giữa mùa thu và mùa đông. Giờ Tý mồng một Tết là giao thời giữa năm cũ và năm mới. Giao thời giờ Tý ăn sủi cảo, tượng trưng sự khởi đầu mới.

'冬天藏护得当,遵循天时变化调养饮食、起居,则能保养精神和元气。( 明 赵左《寒江草阁・轴》局部,台北故宫博物院)'
Mùa đông dưỡng tàng giữ gìn thích hợp, tuân theo sự thay đổi của thiên thời điều chỉnh ẩm thực, sinh hoạt, thì có thể bảo dưỡng tinh thần và nguyên khí. (Một phần bức tranh Hàn Giang Thảo Các của Triệu Tả đời Minh – Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc)

Lập đông dưỡng sinh

Thuận theo sự biến đổi của quy luật tự nhiên “Xuân sinh sôi, hạ tăng trưởng, thu thu hoạch, đông tàng trữ”, thời tiết Lập đông, tiểu vũ trụ là thân thể người cũng tiến vào trạng thái “dưỡng tàng” mùa đông. Mùa đông dưỡng tàng giữ gìn thích hợp, tuân theo sự thay đổi của thiên thời điều chỉnh ẩm thực, sinh hoạt, thì có thể bảo dưỡng tinh thần và nguyên khí, tránh sự xâm hại của bệnh tà.

Tẩm bổ mùa đông

“Lập đông bổ đông”, “Bổ đông bổ miệng”, “Mùa đông tẩm bổ, sang năm đánh hổ”, người xưa cho rằng, sau Lập đông thì hàn khí nặng, thân thể dễ bị không thoải mái, do đó dân gian có thói quen ẩm thực “Bổ đông”. Lúc Lập đông “tẩm bổ” để bổ sung nguyên khí, chống lại giá lạnh, dưỡng tinh súc nhuệ, chuẩn bị tốt cho sang năm, đồng thời cũng khao thưởng cả nhà đã vất vả cả một năm qua.

Tẩm bổ mùa đông, bổ ôn là thích hợp, có thể lựa chọn thực phẩm ôn nhiệt chế biến món ăn, như: gừng già, tỏi, quế, nhục đậu khấu, bạch đậu khấu, hồ tiêu, nhục thung dung, hồi, nhãn khô v.v., có hiệu quả làm ấm thân thể và bảo vệ sức khỏe.

Lẩu dê, vịt mái om gừng, gà om dầu vừng, sườn hầm thuốc bắc v.v., là những mon ăn bổ dưỡng mùa đồng thường thấy. Mỗi người có thể chất khác nhau, do đó hãy tư vấn thầy thuốc Đông y để biết thân thể mình là hàn nhiệt hư thực thế nào, thì mới không bị tẩm bổ mù quáng.

Sử dụng các thực phẩm màu đen

“Hoàng Đế nội kinh” có viết rằng: “Phương bắc sinh hàn, hàn sinh thủy, thủy sinh mặn, mặn sinh thận”. Có thể thấy, thận đối ứng với mùa đông. Trong ngũ hành, mùa đông thuộc hành Thủy, thuộc màu đen, “màu đen đi vào thận”, do đó thực phẩm màu đen thích hợp với dưỡng âm, dưỡng thận mùa đông.

Ví như, gạo nếp cẩm dưỡng âm bổ thận, kiện tỳ dưỡng gan; đỗ đen bổ gan thận, khỏe gân cốt; vừng đen bổ gan dưỡng thận, sáng mắt đen tóc; táo đen (táo tầu đen) bình vị kiện tỳ, bổ thận tăng tủy; mộc nhĩ đen dưỡng âm bổ thận, dưỡng vị bổ thận v.v., đều là những sản phẩm tốt.

Ngoài ra, ngạn ngữ có câu “Lập đông củ cải hơn canh sâm, không phiền thầy thuốc kê đơn thuốc”, vì vậy, sau Lập đông cũng nên ăn nhiều hồng củ cải trắng, xanh, đỏ.

'立冬后也宜多吃红、白、青等不同颜色的萝卜。(清 金廷标《仿陈书画・册・萝卜霜松》局部,台北故宫博物院)'
Sau Lập đông cũng nên ăn nhiều hồng củ cải trắng, xanh, đỏ. (Một phần bức tranh Củ Cải Sương Tùng của Kim Đình Tiêu đời Thanh – Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc)

Ngủ sớm dậy muộn

“Hoàng Đế nội kinh” có ghi chép rằng: “3 tháng mùa đông, gọi là bế tàng, ngủ sớm dậy muộn, ắt chờ ánh sáng mặt trời”. Thời cổ đại, mọi người tuân theo thói quen sống “mặt trời mọc làm việc, mặt trời lặn nghỉ ngơi”, để thân thể thích ứng với thiên nhiên. Sau Lập đông nên ngủ sớm dậy muộn, sinh hoạt theo thời gian của mặt trời, hơn nữa mỗi khi lao động thì lấy mức độ là để thân thể không mệt mỏi.

Làm việc và nghỉ ngơi như thế này thì người hiện đại khó làm được, nhưng khuyến cáo là hãy cố gắng hết sức đảm bảo giấc ngủ đầy đủ, có lợi cho việc ẩn tàng dương khí, tích tụ thận tinh.

Nhìn từ ngũ hành tương khắc, đông thủy khắc hỏa, hỏa thuộc tâm, do đó dễ xảy ra các bệnh về tim mạch.

“Hoàng Đế nội kinh” có viết rằng: “Điềm đạm hư vô, chân khí theo về, tinh thần giữ bên trong, bệnh sao có thể vào được?”. Ý nghĩa là: Cố gắng hết sức không để nhọc cái tâm trí và tổn thương tinh thần, không tức giận, để tinh thần thu vào bên trong, không phóng túc truy cầu, an tĩnh tri túc, không lo nghĩ, như thế thì chính khí trong thân thể tự theo đó mà điều hòa, Tinh – Khí – Thần đầy đủ, thì bệnh tật khó mà tiếp cận thân thể được.

'善意包容能消融冰霜,让人如沐春风。(法轮功学员美术作品《山村福音》,明慧网)'
Thiện ý bao dung có thể tan băng giá tuyết sương, khiến người ta như tắm trong gió xuân. (Tác phẩm mỹ thuật “Sơn thôn phúc âm” của học viên Pháp Luân Công)

Bao dung và cảm ân

Lập đông mở màn mùa đông. Nước ngưng kết thành băng, gió bắc vù vù, đất lạnh giá, vạn vật thu tàng, tránh giá lạnh. Nhưng vẫn có một sự ấm áp, có thể làm tan băng giá tuyết sương, có thể khiến người ta như tắm trong gió xuân, đó chính là thiện ý và bao dung giữa người với người.

Mùa đông là thời tiết nghỉ ngơi điều dưỡng, dưỡng tinh súc nhuệ, cũng là thời gian nhìn lại mình, làm trong sạch nội tâm, cảm tạ ân huệ của Trời Đất. Người Trung Quốc nói “kính phụng thiên thời, để con người hợp với Trời”. Nguyện chúc các bạn nuôi dưỡng tàng chứa tốt Tinh Khí Thần của mình, chuẩn bị tốt cho mùa xuân tới. Xin giới thiệu với các bạn tuyển tập: Trân quý sinh mệnh.

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/11/4/484671.html

Đăng ngày 07-12-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post “Lập đông”: Vạn vật ẩn tàng, nuôi dưỡng tinh nhuệ first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
“Sương giáng” cuối thu: Gió cuốn sạch mây nhẹ, bầu không vạn dặm sươnghttps://vn.minghui.org/news/273306-suong-giang-cuoi-thu-gio-cuon-sach-may-nhe-bau-khong-van-dam-suong.htmlSat, 23 Nov 2024 16:05:41 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=273306[MINH HUỆ 16-10-2024] [Ký giả Nhan Phác Phương của Cửa sổ Minh Huệ tổng hợp biên tập] Trong “Gió thu xào xạc thời tiết mát, cỏ cây lay động trong màn sương” [1], Sương giáng – tiết khí cuối cùng của mùa thu đã tới. Sương giáng, là tiết khí thứ 18 trong 24 tiết […]

The post “Sương giáng” cuối thu: Gió cuốn sạch mây nhẹ, bầu không vạn dặm sương first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
[MINH HUỆ 16-10-2024] [Ký giả Nhan Phác Phương của Cửa sổ Minh Huệ tổng hợp biên tập] Trong “Gió thu xào xạc thời tiết mát, cỏ cây lay động trong màn sương” [1], Sương giáng – tiết khí cuối cùng của mùa thu đã tới. Sương giáng, là tiết khí thứ 18 trong 24 tiết khí, mặt trời đi đến vị trí 210 độ Hoàng đạo, vào khoảng từ 22 tháng 10 đến 24 tháng 10 Dương lịch hàng năm. Sương giáng năm 2024 là ngày 23/10.

2024-10-15-204057-0--ss.jpg

“Nguyệt lệnh 72 hầu giải tập” có viết: “Trong tháng 9, khí thu lại và ngưng đọng, sương móc kết thành sương”. Ý nghĩa là, tháng 9 Hoàng lịch, nhiệt độ liên tục giảm, vào ban đêm và sáng sớm, khí nước trên mặt đất hoặc trên các vật mặt đất ngưng kết thành tinh thể băng xốp, gọi là sương. Thông thường gọi sương lần đầu xuất hiện trong mùa thu là Tảo sương, hoặc Sơ sương.

“Sương giáng khiến người lạnh, băng nhẹ nước chảy chậm” [2]. Sau Sương giáng, tiết khí tiếp theo là Lập đông. Do đó, Sương giáng ở bắc bán cầu ngụ ý thu qua đông tới, thay đổi mùa, lúc này những thực vật không chịu được giá lạnh sẽ dừng sinh trưởng, đại bộ phận các khu vực ở Trung Quốc đều cảm thấy thời tiết chuyển sang mát và se lạnh.

Sương giáng tam hậu

Câu thơ của Nguyên Chẩn, thi nhân đời Đường “Gió cuốn sạch mây nhẹ, bầu không vạn dặm sương” [3] đã miêu tả đặc điểm của Sương giáng: Gió bắc cuốn mây nhẹ đi, bầu trời vạn dặm phủ lớp sương sớm. Thi nhân Bạch Cư Dị cũng cảm nhận được Sương giáng là đã sắp đến cuối năm: “Sương giáng nước về suối, gió thổi cây về núi, chậm rãi năm sắp hết, vật trở về cội nguồn” [4].

Sương giáng bắt đầu, khí hậu dần dần từ cuối thu bước sang mùa đông, “Dật Chu thư – Thời huấn” đã ghi chép 3 giai đoạn vật hậu của Sương giáng:

Sói là loài thú săn mồi cúng tế: khi Sương giáng đến, sói bắt đầu chuẩn bị thức ăn mùa đông, săn bắt con mồi rồi để cùng một nơi, giống như là cúng tế vậy.

Cỏ cây vàng rụng: 5 ngày sau tiết Sương giáng, vạn vật cảm ứng khí khắc nghiệt của trời đất, cỏ cây lá khô vàng rụng. Thơ của Trương Hoành đời Hán có viết “Than” về nỗi buồn mùa thu rằng: “sương rơi nhiều, cây cỏ tiêu điều”.

Côn trùng ngủ đông: 10 ngày sau Sương giáng, hàn khí dần xâm nhập, loài côn trùng ngủ đông trong các hang lỗ, không cử động cũng không ăn. Trong “Đế cư kiềm nam thập thủ” của Hoàng Đình Kiên đời Tống có viết: “Sương giáng nước về suối, gió thổi cây về núi. Chậm rãi năm sắp hết, côn trùng đều bế quan”, đã viết rằng thời gian này, côn trùng tiến vào trạng thái ngủ đông.

'唐代诗人元稹的“风卷清云尽,空天万里霜。”形容了霜降节气的特点:北风卷起清云而去,空天万里披上了早霜。(清《允禧山水・册・枫叶霜林》,台北故宫博物院)'
Câu thơ của Nguyên Chẩn, thi nhân đời Đường “Gió cuốn sạch mây nhẹ, bầu không vạn dặm sương” đã miêu tả đặc điểm của Sương giáng: Gió bắc cuốn mây nhẹ đi, bầu trời vạn dặm phủ lớp sương sớm. (Bức tranh “Lá phong rừng sương” của Doãn Hy đời Thanh – Bảo tàng Cố cung Đài Bắc)

Sương giáng dưỡng sinh: Nên bổ bình hòa, kiêng cay nóng

Đối ứng với sự thay đổi của 4 mùa, thì việc dưỡng sinh đương nhiên là không thể coi nhẹ, vào tiết Sương giáng cuối thu, khi độ chênh nhiệt độ trong ngày lớn, cần chú ý đạo dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe thân và tâm, tránh. Sinh hoạt và nghỉ ngơi nên tiếp tục ngủ sớm dậy sớm như đầu thu và giữa thu, tránh vận động đột ngột và quá mức. Tiến hành các hoạt động có lợi cho sức khỏe thân tâm và não, như: Học tập những sự vật mới, sáng tác, luyện tập tĩnh tọa v.v… điều này có lợi cho việc tiến vào trạng thái yên tĩnh, vui vẻ và chuyên chú, có thể tránh được trạng thái trầm uất mùa thu như tinh thần sa sút, thiếu khí lực v.v…

Theo quan điểm dưỡng sinh học của Đông y, bên ngoài cần thêm quần áo giữ ấm toàn thân, đặc biệt chú ý giữ ấm vùng bụng. Nếu cục bộ thân thể giữ ấm không thỏa đáng, thì các chứng bệnh như dạ dày mạn tính, đau khớp trời lạnh (viêm khớp gối), viêm khí quản mạn tính, sẽ tái phát và nặng thêm, cũng dễ gây ra các bệnh tim mạch, viêm mũi dị ứng, cảm cúm thu đông và nhiễm trùng đường hô hấp.

Bên trong cần nhuận táo nhuận phế, coi trọng bổ tỳ dưỡng vị, tăng cường chức năng phòng vệ của thân thể. Ngạn ngữ nói rằng: “Bổ cả năm không bằng bổ Sương giáng”, “Bổ mùa đông không bằng bổ Sương giáng”. Mùa thu không thích hợp phương thức bổ táo nhiệt, ẩm thực nên bổ bình hòa là chính, và cần điều dưỡng khí huyết để dưỡng vị, do đó dùng thực phẩm thiên nhiên thanh đạm và bình hòa là thích hợp, như: lê, táo, trám, bạch quả (ngân hạnh), hành tây, rau cải, củ cải, long nhãn, táo tàu, mật ong, mã đề v.v.

Có thể ăn nhiều cháo. Trong “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân có viết rằng: “Phương thuốc cổ có dùng thảo dược, gạo tám, gạo tẻ, lúa mạch nấu cháo, trị được rất nhiều bệnh”. Các thầy thuốc Đông y vùng Hoa Hạ cổ đại đều khuyên dùng cháo, vì cháo là thực phẩm dưỡng sinh bổ bình hòa, có tác dụng làm ấm dạ dày, và sinh tân dịch, ví như: cháo rau quỳ, cháo bột bách hợp, cháu rau, cháo hạt thông v.v., đều là bổ bình hòa rất phù hợp.

Cuối thu rất dễ bị khô táo, thân thể rất dễ bốc hỏa, cần tránh ăn những thực phẩm kích thích dạ dày và ruột, như vịt om gừng, gà hầm rượu và thuốc bắc, lẩu dê v.v., hoặc các món ăn cay nóng, đều có thể làm cho người có thể chất táo nhiệt càng dễ bốc hỏa dẫn đến táo bón. Ngoài ra, mùa thu thường ăn hạt dẻ, tuy là món ngon bổ dưỡng, nhưng cần lưu ý ăn hạt dẻ sống cực kì khó tiêu hóa, ăn chín thì dễ trệ khí, nên người có hệ thống tiêu hóa không tốt thì không nên ăn nhiều.

Tập tục Sương giáng

Đánh Sương giáng

Trong Chu Lễ có ghi chép, đại tư mã (chức quan quản lý quân đội toàn quốc) khi xuất quân, cần tiến hành tế lễ với kỳ đào (cờ tiết) gọi là “Quân nha lục đạo chi Thần”. Theo phong tục cổ, mỗi năm vào ngày Lập xuân là ngày khai binh, Sương giáng là thời kỳ thu binh. Do đó trước ngày Sương giáng, tổng binh và các võ quan của các phủ, huyện trang bị nai nịt đầy đủ, mặc giáp đội mũ giáp, tay cầm đao thương cung kiếm, dàn quân trước miếu cờ tiết (kỳ đào) cử hành nghi lễ thu binh, để cầu loại bỏ những điều không may mắn, thiên hạ thái bình.

Lúc canh năm ngày Sương giáng, các võ quan hướng về cờ tiết hành đại lễ 3 quỳ 9 khấu đầu. Lễ xong, dàn đội ngũ chỉnh tề đâm thương vào không khí 3 nhát kêu vang, sau đó lại thử hỏa pháp, đánh thương, gọi là “Đánh Sương giáng”, cũng gọi là “Tế kỳ đào”. Người dân thường đến xem đông như nước thủy triều.

Thu tế Sương giáng thời cổ đại biểu lộ sự sùng kính của con người đối với Thượng Thiên.

'清《雍正帝祭先农坛图卷》局部。(公有领域)'
Một phần bức tranh “Ung Chính Đế tế Tiên Nông đàn” đời Thanh.

Thả diều

Ngoài tiết Thanh minh ra thì ngày Sương giáng cũng được coi là ngày thả diều. Do vùng Giang Nam vào thời gian tháng 3, tháng 4 là mùa mưa, không thích hợp thả diều, do đó dân chúng địa phương thường chọn ngày Trùng cửu và Sương giáng vào tiết thu trời trong xanh gió mát để thả diều, mỗi năm các địa phương của Đài Loan cũng cử hành lễ hội thả diều vào những ngày này.

Ăn hồng, củ cải

Trước và sau tiết Sương giáng, chính là thời kỳ hồng chín, do đó dân gian có câu nói “Sương giáng hồng đỏ như lửa” và “Sương giáng hái hồng”. Sau khi có sương, cây hồng rụng hết lá, những quả hồng lúc lỉu như những cái đèn lồng nhỏ treo đầy cành, mà những trái hồng sau khi bị sương xuống thì vị càng ngọt, vị chát càng ít, là thời gian tốt nhất để hái hồng.

Trong “Bản thảo cương mục”, Lý Thời Trân ghi chép rằng: “Hồng là trái cây bổ tỳ, phế và bổ huyết, Hồng có vị ngọt và bình hòa, tính sáp và thu liễm, có tác dụng kiện tì sáp tràng, trị ho cầm máu”. Từ thời cổ đại, hồng đã được coi là loại trái cây quý vừa ngon vừa bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe.

'霜降前后,正是柿子的成熟期。(图为《元人丰登报喜图・轴》局部,前方果盘盛满百合、柿子、苹果、佛手,旁置柏枝与柿、灵芝与细颈玻璃瓶,巧妙运用同音谐音,表达“百事平安、福气吉祥”之意,台北故宫博物院)'
Trước và sau tiết Sương giáng, chính là thời kỳ hồng chín. (Một phần bức tranh Được mùa báo hỷ thời nhà Nguyên. Đĩa trái cây phía trước đựng đầy bách hợp, hồng, táo, phật thủ, bên cạnh là bình cổ mảnh cắm cành bách và hồng, linh chi, dùng đồng âm và hài âm biểu đạt “Bách sự bình an, phúc khí cát tường” – Bảo tàng Cố cung Đài Bắc)

Sau tiết Sương giáng, thời tiết lạnh, rất dễ gây hiện tượng sổ mũi, Đông y nói rằng “Phổi khai khiếu ở mũi”, bảo vệ phổi thích hợp, tự nhiên sẽ không sổ mũi, mà trái hồng có công hiệu rất tốt lợi phế thanh nhiệt, kiện tì và làm ấm dạ dày. Do đó có câu nói rằng “Sương giáng ăn hồng, thì không sổ mũi”.

Người Sơn Đông thì nói “Xử thử cao lương, Bạch lộ ngũ cốc, Sương giáng nhổ củ cải”. Tiết Sương giáng đến là thời gian thu hoạch củ cải, là thực phẩm theo mùa mà thiên nhiên ban tặng. Từ thời cổ đại, dân gian đã lưu truyền câu ngạn ngữ “Đông ăn củ cải hạ ăn gừng, không phiền thầy thuốc kê đơn thuốc”, “Củ cải cuối thu bổ hơn nhân sâm”.

Thưởng cúc, thưởng phong, thưởng mang hoa

Thời cổ có câu nói “Sương xuống hoa cúc nở”, tiếp theo Hàn lộ, Trùng dương leo núi thưởng cúc, tiết Sương giáng, rất nhiều địa phương cử hành hội hoa cúc, nhà phú quý bày hàng trăm chậu hoa cúc quý trong sân rộng, sau đó uống rượu thưởng hoa, ngâm thơ vung bút mực.

Cuối thu, thiên nhiên đổi sang trang phục thu diễm lệ, lá phong ở vùng cao từ xanh chuyển sang màu đỏ, khắp núi đồi là hoa mang (một loại hoa cỏ gần giống cỏ lau) nở rộ. Những lá phong đỏ như lửa tầng tầng lớp lớp, những hoa mang trắng như bạc lắc lư theo gió, tăng thế khí thế náo nhiệt cho mùa thu heo hắt, đó chính là thời tiết đẹp để thưởng thức lá phong và hoa mang.

'“霜叶红于二月花”[5],深秋正是赏枫的好时节!(清 恽寿平《瓯香馆写意・册・枫叶》,台北故宫博物院)'
“Sương giáng lá đỏ hoa tháng 2” [5], cuối thu là thời tiết đẹp thưởng thức lá phong. (Bức tranh Lá Phong của Uẩn Thọ Bình đời Thanh – Bảo tàng Cố cung Đài Bắc)

Biệt ly – nhớ nhung – tu hành

Sương giáng là thời tiết biệt ly. Lá vàng múa rơi, lưu luyến cáo biệt cây. Côn trùng ngủ đông, chim sẻ chim én bay về phương nam, những cánh rừng náo nhiệt trước đây, giờ chỉ còn những cành cây khẳng khiu rụng lá.

Sương giáng là ngày nhớ nhung, vạn vật điêu tàn, quân tử “cảm thời tiết nhớ người thân”. Hoàng Đình Kiên, thi nhân thời Bắc Tống bước trên sương nhớ người thân, “Đi trong hoang dã, không dám bước mạnh. E rằng tâm nhớ người thân sẽ động, có nỗi lo bước trên sương”. Ý nghĩa là, du nhân dạo chơi nơi hoang dã, e sợ bước nhẹ trên sương, tiếng bước chân lao xao, đều sẽ kinh động cái tâm nhớ người thân, lo lắng vì trở về muộn. Sự quan tâm của thi nhân với cha mẹ khiến người ta cảm nhận như chính mình cảm nhận vậy: Thời tiết Sương giáng, hiếu tử “lo lắng bước trên sương“ đã được lưu truyền như thế đó.

Sương giáng cũng là thời cơ tốt của việc tu hành. Hoa đã rụng hết, yên tĩnh mênh mông, khiến cái tâm thất tình lục dục trong ngũ sắc trầm lắng xuống, trong trẻo ra, thể ngộ được bản chân của sinh mệnh. Chúc phúc mọi người trong lúc thu đi đông đến, có thêm lòng yêu thương, có thêm trí huệ, và càng hiểu thêm sự tôn trọng và trân quý, càng chân thành thiện ý và bao dung hơn đối với mỗi ngày hôm nay độc nhất vô nhị, bởi vì mỗi ngày hôm nay đều chứa đầy khả năng sáng tạo tươi đẹp. Xin giới thiệu với mọi người seri: Những câu chuyện đi tìm ý nghĩa sinh mệnh.

'“霜降水返壑,风落木归山。”[4](清 董邦达《秋水芦村・卷》,台北故宫博物院)'
“Sương giáng nước về suối, gió thổi cây về núi” [4]. (Bức tranh Làng lau sông thu của Đổng Bang Đạt đời Thanh – Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc)

Chú thích:

[1] tuyển tự “Yến ca hành” của Tào Phi thời Tam Quốc.

[2] “Vịnh 24 khí thu – Lập đông thập nguyệt tiết” của Nguyên Chẩn đời Đường

[3] “Vịnh 24 khí thu – Sương giáng cửu nguyệt trung” của Nguyên Chẩn đời Đường

[4] “Tuế vãn” của Bạch Cư Dị đời Đường

[5] “Sơn hành” của Đỗ Mục đời Đường

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/10/16/483940.html

Đăng ngày 23-11-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post “Sương giáng” cuối thu: Gió cuốn sạch mây nhẹ, bầu không vạn dặm sương first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
“Hàn Lộ” lợi cho vạn vật: Đi xa tìm cỏ thơm, leo cao thưởng sắc thuhttps://vn.minghui.org/news/272900-han-lo-loi-cho-van-vat-di-xa-tim-co-thom-leo-cao-thuong-sac-thu.htmlFri, 08 Nov 2024 10:57:31 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=272900[MINH HUỆ 07-10-2024] “Dây tử cát hoa vàng, xinh tươi trong Hàn Lộ” [1] – đây là câu thơ trong bài thơ Đường “Trai tâm”, đã nói ra trong sắc thu dần dần nồng nàn, nghênh đón tiết Hàn Lộ. Hàn Lộ là sương đã lạnh, ý nghĩa là đại bộ phận các khu vực […]

The post “Hàn Lộ” lợi cho vạn vật: Đi xa tìm cỏ thơm, leo cao thưởng sắc thu first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
[MINH HUỆ 07-10-2024] “Dây tử cát hoa vàng, xinh tươi trong Hàn Lộ” [1] – đây là câu thơ trong bài thơ Đường “Trai tâm”, đã nói ra trong sắc thu dần dần nồng nàn, nghênh đón tiết Hàn Lộ. Hàn Lộ là sương đã lạnh, ý nghĩa là đại bộ phận các khu vực ở Trung Quốc, thời tiết sẽ từ mát mẻ quá độ sang lạnh giá.

2024-10-6-211124-0--ss.jpg

Hàn Lộ là tiết khí thứ 17 trong 24 tiết khí, cũng là tiết khí thứ 5 của mùa thu, mặt trời di chuyển đến kinh độ 195 độ, hàng năm rơi vào khoảng ngày 8 đến ngày 10 tháng 10 Dương lịch. Tiết Hàn Lộ năm 2024 bắt đầu từ ngày 8/10.

“Lịch Thư” có ghi chép rằng: “Sao Bắc Đẩu chỉ hướng nam giáp là Hàn Lộ, lúc này sương lạnh, sắp ngưng kết, do đó gọi là Hàn Lộ”.

“Nguyệt lệnh 72 hậu giải tập” có viết: “Tiết tháng 9, khí sương lạnh, sắp ngưng kết”.

Hàn Lộ là tiết khí xuất hiện chữ Hàn đầu tiên trong 24 tiết khí, nhưng không phải là biểu thị lạnh như mùa đông. Lúc này, khí hậu mát hơn tiết Bạch Lộ, sương cũng nhiều hơn, ban đêm mặt đất ngưng kết những hạt sương long lanh, và sắp ngưng kết thành sương móc, và mang theo chút lạnh, nhưng vẫn chưa tiến vào mùa đông lạnh giá.

'“寒露”气温较“白露”时更凉,露水更多,“凝空流欲遍,润物净宜看”[2]。(瑞士法轮功学员摄影作品)'
“Hàn Lộ” khí hậu mát hơn Bạch Lộ, sương nhiều hơn, “Ngưng tụ trên không chảy khắp nơi, lợi cho vạn vật sạch nên xem” [2]. (Tác phẩm nhiếp ảnh của học viên Pháp Luân Công Thụy Sĩ)

Miền Bắc đã hiện ra cảnh sắc cuối thu, đôi khi thấy sương móc vào buổi sáng. Miền Nam cũng dần đậm sắc thu, mát mẻ hanh khô. Tết Trùng Dương năm 2024 là ngày 11 tháng 10, chính là thời tiết đẹp “Đi xa tìm cỏ thơm” [3], dắt các trưởng bối leo cao lãm thưởng sắc thu.

Hàn Lộ đặc sắc: Ý thu nồng nổi gió cửu giáng

“Phất phơ gió mát thổi, thê lương sương lạnh ngưng” [4], Hàn Lộ (sương lạnh) là bước ngoặt khí hậu chuyển từ mát sang lạnh, mùa thu trước tiết Hàn Lộ mang theo chút mát mẻ, sau tiết Hàn Lộ thì thực sự có chút lạnh rồi, tiết khí ngay sau đó là Sương Giáng. Khoảng thời gian này, nhiệt độ liên tục giảm, cuối thu, sẽ trượt xuống mùa đông như là trượt ống trượt vậy.

Ba dấu hiệu của Hàn Lộ

“Thơ vịnh 24 tiết khí – Tiết Hàn Lộ tháng 9”

Hàn Lộ kinh thu muộn, sáng xem cúc dần vàng
Ngàn nhà gió quét lá, vạn dặm nhạn về nam.
Ngao sò buồn bầy chim, mùa màng sợ sương sớm.
Mới biết chí tùng bách, đông hạ sắc xanh xanh.

Bài thơ này của Nguyên Chẩn – thi nhân đời Đường, đã giải thích 3 dấu hiệu Hàn Lộ vô cùng sống động, khiến người ta cảm giác như chính mình đang trải qua.

Dấu hiệu thứ nhất – Hồng nhạn trở về bờ: Bắt đầu từ tiết Bạch Lộ giữa mùa thu, lục tục có hồng nhạn khởi hành bay về phương Nam. Đến Hàn Lộ mùa thu, loạt hồng nhạn cuối cùng xếp thành hình chữ Nhất hoặc hình chữ Nhân bay về phương Nam.

Dấu hiệu thứ 2 – chim sẻ xuống nước thành ngao sò: Trước sau ngày thứ 5 của Hàn Lộ, cuối thu trời lạnh, chim sẻ không xuất hiện, người xưa nhìn thấy bên bờ biển bỗng nhiên xuất hiện rất nhiều ngao sò, hoa văn và màu sắc vỏ của chúng rất giống chim sẻ, do đó bèn cho rằng, là chim sẻ biến thành.

Dấu hiệu thứ 3 – Cúc bắt đầu nở hoa vàng: Trước và sau ngày thứ 10 tiết Hàn Lộ, hoa cúc vàng nở rộ. Trong “Lễ ký” có ghi chép rằng “Tháng mùa thu, cúc nở hoa vàng”.

'寒露的第十天前后,黄菊盛开。(清 庄瑗《人物画卌・册・高士移菊图》,台北故宫博物院)'
Trước và sau ngày thứ 10 tiết Hàn Lộ, hoa cúc vàng nở rộ. (Tranh “Cao sĩ di cúc đồ” của Trang Viện đời Thanh” – Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc)

Nổi gió Cửu giáng

Có câu ngạn ngữ rằng: “Tháng 9 nổi gió Cửu giáng, trốc đầu không nơi trốn”. Sách “Đài Loan huyện chí” do Trần Văn Đạt biên soạn những năm Khang Hy có ghi chép rằng: “Tháng 9, gió bắc lạnh buốt, thời gian lâu có tên là gió Cửu giáng”. Gió cửu giáng là chỉ gió lạnh tháng 9, tiết Hàn Lộ, miền Bắc Đài Loan đúng vào lúc gió mùa đông bắc tăng cường, gió bắc thổi mạnh, thổi bay mũ của những người bị trốc đầu vốn dùng mũ che đậy xấu xí.

Gió Cửu giáng lạnh thấu xương, nhưng tiết Hàn Lộ, ở vùng Bắc Phố, Tân Phố và Quan Tây của huyện Tân Trúc miền Bắc Đài Loan đúng vào mùa thu hoạch trái hồng, lúc này dân gian làm hồng khô, bánh hồng, gió Cửu giáng chính là trợ thủ đắc lực.

Mùa thu ăn trái hồng, có công hiệu bảo vệ sức khỏe tim mạch. Nhìn từ góc độ Đông y, trái hồng tính hàn, vị ngọt, có tác dụng nhuận phế chữa ho.

Tục ngữ có nói rằng: “Ăn cơm Hàn Lộ, ít gặp mặc áo đơn”, “Hàn Lộ chân không lộ”, người già cũng thường nói “lạnh bắt đầu từ chân”, sau Hàn Lộ, cần đặc biệt chú ý giữ ấm, nhất là chân.

Tập tục Hàn Lộ

Leo cao thưởng sắc thu

Hàn Lộ là thời tiết đẹp leo cao thưởng sắc thu, leo cao nhìn xa, tận cùng tầm mắt, sắc thu vàng khắp núi, do đó tục ngữ nói rằng: “Leo cao giải u uất mùa thu”. Do rất gần với tiết Trùng Dương mồng 9 tháng 9 âm lịch, nên tập tục này dần dần dịch chuyển sang tiết Trùng Dương, tập tục Trùng Dương leo cao có khởi nguồn từ thời nhà Hán, ban đầu là để tránh tà.

Nhìn từ sự biến hóa âm dương, người Trung Quốc cổ đại cho rằng “Núi là dương, đầm là âm, cao là dương, thấp là âm”, nơi cao là nơi có dương khí cực thịnh, mùa thu leo cao có thể tụ dương khí. Nhìn từ Tây y, leo cao có thể tăng dung lượng phổi, phòng chống cảm mạo. Tóm lại, leo cao ngắm cảnh sắc đã trở thành một hoạt động tốt giải sầu, thư thái thân tâm vào thời tiết thu này.

Thưởng thức hoa cúc

Tháng 9 Hoàng lịch Hàn Lộ đến, cũng gọi là Tháng hoa cúc, là mùa hoa cúc nở rộ. Khác với những loài hoa khác nở rộ mùa xuân và mùa hạ, hoa cúc càng nhiều sương giá thì càng nở rộ. Hoa cúc là loài hoa có tính tiêu biểu nhất cho thời tiết Hàn Lộ, nơi nơi đều thấy tung tích của cúc, mọi người thưởng ngoạn hoa cúc, uống trà hoa cúc, rượu hoa cúc, đã trở thành thú chơi tao nhã vào tiết khí này.

Trong “Tây khê tùng ngữ” của Diêu Khoan, văn nhân đời Tống đã gọi cúc là Thọ Khách, tượng trưng trường thọ. Trùng Dương mồng 9 tháng 9, chính là thời kỳ hoa cúc nở rộ, Trùng Dương leo cao người thêm thọ, Tết Trùng Dương cũng được gọi là Tết Hoa Cúc.

'寒露到来的黄历九月又称菊月,是菊花盛开的季节。(清 恽寿平 《瓯香馆写生册・菊花》,公有领域)'
Tháng 9 Hoàng lịch Hàn Lộ đến, cũng gọi là Tháng hoa cúc, là mùa hoa cúc nở rộ. (Tranh Hoa Cúc của Uẩn Thọ Bình đời Thanh)

Ăn bánh hoa cao và hạt vừng

Hàn Lộ và Tết Trùng Dương về thời gian là gần nhau, do đó có tập tục ăn bánh hoa cao sau khi leo cao, do bánh Cao và leo Cao đồng âm, nên ăn bánh hoa cao ngụ ý “Bộ bộ cao thăng”.

Người xưa nói: “Mùa thu hanh khô, nên ăn vừng để nhuận táo”. Cùng với khí hậu ngày càng lạnh, dân gian có tập tục “Hàn Lộ ăn vừng”. Vừng vị ngọn bình, trong các trước tác y học như “Thần Nông bản thảo kinh” và “Bản thảo cương mục” đều có đánh giá rất cao về vừng, có tác dụng bổ gan thận, nhuận ngũ tạng, hạ huyết áp, chữa ho suyễn, nhuận da, chống suy lão, còn nhuận tràng thông tiện, Đông y thường dùng vừng để cải thiện các chứng bệnh như váng đầu, hư nhược, bạc tóc, táo bón v.v.

Hàn Lộ dưỡng sinh

Người cổ đại Trung Quốc coi trọng “Thiên – nhân hợp nhất”, cho rằng còn người và thiên nhiên là một chỉnh thể, một năm bốn mùa khí hậu thay đổi đều ảnh hưởng đến nhịp điệu sinh lý của con người, do đó về ăn uống làm việc và nghỉ ngơi cần phải thuận theo quy luật tự nhiên của sự thay đổi của mùa và tiết khí.

Từ góc độ Đông y mà nói, thời tiết Hàn Lộ, đặc điểm thời tiết lớn nhất ở phương Nam là khô hanh, mà khô hanh thì dễ tổn thương phổi và dạ dày. Lúc này sự bốc hơi của mồ hôi và các chất dịch của mọi người khá nhanh, do đó thường xuất hiện da khô, tăng nếp nhăn, miệng khô cổ khô, ho khan ít đờm, thậm chí lông tóc rụng nhiều, táo bón v.v. Do đó trọng điểm dưỡng sinh là dưỡng âm phòng khô hanh, nhuận phế bổ dạ dày.

Ẩm thực lấy “chua, ngọn, nhuận” làm chính, ít ăn các thực phẩm cay nóng, phát tán. Đông y cho rằng, trong ngũ vị thì cay, ngọt có thể hóa thành âm sinh tân dịch, có thể ăn nhiều những thực phẩm nhu nhuận như cháo, gạo nếp, ngó sen, hoa cúc, cua để bổ trung ích khí, đồng thời tăng các món như gà, vịt, thịt bò, gan lợn, cá, tôm, táo tàu, củ từ v.v. để tăng cường thể chất, ít ăn ớt, gừng, hành, tỏi, vì cay nóng dễ tổn thương chức năng nội tạng của thân thể người.

Thời tiết Hàn Lộ, gió thổi lá rơi, cảnh tượng cuối thu hiu hắt dễ khiến người ta sinh ra cảm giác thê lương, dễ tổn thương tình cảm chí hướng, xuất hiện các trạng thái không hăng hái như tâm trạng bơ vơ, tinh thần ủy mị, ăn uống không ngon, và sau đó ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Lúc này, có thể thuận theo nhu cầu nghỉ ngơi an dưỡng, giảm các hoạt động quyết liệt, tăng thời gian ngủ.

Mọi người đều nói “Leo cao giải thu sầu”, có thể ra bên ngoài nơi có nhiều ánh nắng, leo núi leo cao, hoặc trò chuyện trên bãi cỏ, hoặc rèn luyện thư giãn, những việc này đều có thể thả lỏng thân tâm, có lợi cho việc bồi dưỡng tâm thái lạc quan thoáng đạt.

'寒露时节,正值九九重阳节,携长辈爬山登高或草地闲聊或進行舒缓锻炼,是放松身心好时节。(清 张若霭《墨妙珠林(卯)・册・寒露》,台北故宫博物院)'
Thời tiết Hàn Lộ, đúng dịp Tết Trùng Dường mồng 9 tháng 9, dắt trưởng bối leo núi hoặc trò chuyện trên bãi cỏ, hoặc rèn luyện thư giãn, là thời tiết thả lỏng thân tâm. (Tranh Hàn Lộ của Trương Nhược Ải đời Thanh, Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc)

Trùng Dương kính lão

Tết Trùng Dương có rất nhiều hoạt động tập tục dân gian, như tránh ác tiêu tai, leo cao nhìn xa, ngắm hoa cúc, cắm cành thù du v.v., đều có ngụ ý kính úy trời đất, chúc phúc người già bình an mạnh khỏe. Tôn hiền kính lão là mỹ đức của dân tộc Trung Hoa, “Dê có ân quỳ cho bú, quạ có nghĩa cho ăn”, tận hiếu đạo là bổn phận thiên kinh địa nghĩa.

Nhưng trong cuộc sống hiện thực, “tận hiếu” luôn bị người hiện đại coi nhẹ, thậm chí vì việc nuôi dưỡng người già mà đưa nhau ra công đường, nhưng pháp luật cưỡng chế không thay đổi được cái tâm con người.

Có một số người như thế, trong cõi hồng trần cuồn cuộn, với sự thiện lương xuất phát từ nội tâm, đã thể hiện ra hiếu hạnh vượt trên bình thường trong cuộc sống bình thường: Xin giới thiệu với quý vị “seri gia đình hạnh phúc”, chúc quý vị gia đình hạnh phúc, vui vẻ.

Chú thích:

[1] “Trai tâm” của Vương Xương Linh đời Đường: Nữ mộng đổ vách đá, nước suối tĩnh mông lung. Dây tử cát hoa vàng, xinh tươi trong Hàn Lộ. Sáng uống sương trên hoa, đêm ngủ gió gốc thông. Hoa mây hóa thành nước, quang và ta hòa đồng. Nhật nguyệt động hồn phách, lưa thưa bầu trời không.

[2] “Đêm trăng thấy sương lạnh trên lá ngô đồng” của Đới Thái đời Đường: Lác đác lá ngô đồng, trăng trắng sương mới đọng. Nhỏ giọt đầy ánh sáng, lấp lánh sắc màu lạnh. Gió lay giọt sầu rơi, cành rung tiếc giọt châu. Khí lạnh ngỡ thu muộn, âm nhỏ đêm sắp tàn. Ngưng tụ chảy khắp nơi, tốt tươi lợi vạn vật. Ngắm cảnh đẹp không chán, cảnh sắc này hiếm thay.

[3] “Tiễn Hòe Quảng thi trượt trở về Dương Châu” của Vi Ứng Vật đời Đường: Thi trượt thường oan uổng, thiếu niên tâm nhẹ tênh. Chào bạn về bên biển, giống cậu nổi danh thơ. Tối từ biệt núi xanh, đi xa tìm cỏ thơm. Ngày về chắc không xa, sương lạnh ướt thành Vu.

[4] “Trì thượng” của Bạch Cư Dị đời Đường: Phất phơ gió mát thổi, thê lương sương lạnh rơi. Lan tàn hoa sắc trắng, lá sen rách còn xanh. Hạc một mình bãi cát, đôi đom đóm sáng nước. Nếu là cảnh sa sút, vẫn đáng rượu tỉnh say.

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/10/7/483670.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2024/10/24/221353.html

Đăng ngày 08-11-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post “Hàn Lộ” lợi cho vạn vật: Đi xa tìm cỏ thơm, leo cao thưởng sắc thu first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Trung Thu nói về “Lễ”https://vn.minghui.org/news/272880-trung-thu-noi-ve-le.htmlThu, 07 Nov 2024 15:52:34 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=272880[MINH HUỆ 31-08-2024] Trung thu sắp đến, một vầng trăng sáng chiếu khắp thiên hạ. Nói đến Tết Trung thu, mọi người thường liên tưởng đến bánh Trung thu và câu chuyện Thường Nga bôn nguyệt. Kỳ thực, ngoài ăn bánh Trung thu, thưởng nguyệt […]

The post Trung Thu nói về “Lễ” first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của ban biên tập “Chúc bạn bình an”

[MINH HUỆ 31-08-2024] Trung thu sắp đến, một vầng trăng sáng chiếu khắp thiên hạ. Nói đến Tết Trung thu, mọi người thường liên tưởng đến bánh Trung thu và câu chuyện Thường Nga bôn nguyệt. Kỳ thực, ngoài ăn bánh Trung thu, thưởng nguyệt ra, vào ngày Tết Trung thu, người xưa còn có tập tục tế nguyệt, kính lão v.v. Những tập tục này không chỉ hàm chứa sự mong muốn được đoàn tụ với người thân, mà càng thể hiện ra ý kính ngưỡng của người xưa đối với trời đất Thần linh.

Nói đến nguồn gốc của Tết Trung thu, cần phải bắt đầu từ việc tế nguyệt. Trung thu trở thành ngày lễ, là từ việc tế Thần mặt trăng vào mùa thu phát triển ra. Trong “Lễ ký – Tế pháp” có ghi chép: “Mặt trời, mặt trăng, các vì sao, là những thứ mà con người chiêm ngưỡng”; “Đêm trăng là là tế nguyệt”. Chiểu theo tiết khí thời lệnh, người xưa có truyền thống “buổi sáng tiết Xuân phân, và buổi tối tiết Thu phân”, vào ngày Xuân phân này, ban ngày tế mặt trời; vào ngày Thu phân này, buổi tối tế mặt trăng. Ngày 18 tháng 8 (âm lịch), là chính giữa 3 tháng mùa thu, do đó người đời sau lấy ngày Trung thu (giữa mùa thu) làm ngày lễ tế mặt trăng.

Mùa thu là mùa ngũ cốc bội thu, cũng là lúc trái đất tiến vào thời kỳ nghỉ ngơi điều tức, nuôi dưỡng sức lực. Mọi người sau khi bận rộn thu hoạch, dùng trái cây tinh khiết và ngũ cốc để tế bái Thần Mặt trăng, cảm ơn một năm qua mưa thuận gió hòa, cảm tạ sự bảo hộ của trời đất Thần linh.

Nếu sau khi thu hoạch, không để đất đai nghỉ ngơi, vội vàng bắt đầu trồng trọt thì sẽ ra sao? Trong “Lễ ký – Nguyệt lệnh” có viết rằng: “Trọng thu thực hành xuân lệnh, thì mưa thu không rơi, cây cỏ sinh trưởng, quốc gia có mối lo”. Trọng thu nếu nếu thực hiện xuân lệnh (cày cấy) thì mưa thu sẽ ngừng rơi, cây cối lại ra hoa, quốc gia sẽ có khủng hoảng lớn.

Lễ của trời đất bốn mùa, đạo của âm dương hài hòa, không chỉ là nông nghiệp và trồng trọt, mà còn liên quan đến mọi phương diện, xuất phát từ các nguyên nhân như lợi ích, tham cầu v.v., con người có thể vào lúc thời cơ không thích hợp, làm những sự việc không thích hợp. Nếu không phù hợp với Lễ, rời xa khỏi thiên lý thiên Đạo, thế thì sẽ xuất hiện các sự tình mà Thượng Thiên cảnh báo như như tai họa, trời trừng phạt v.v. Lễ pháp như thế này được nói rất rõ ràng trong “Nguyệt lệnh”, nhưng thực sự làm được thì không dễ.

Lễ mùa thu không thể trái được

Trong Hán Thư, Hậu Hán Thư, tổng cộng có 16 lần dẫn dụng “nguyệt lệnh”, đều là vì một số viên quan quận, châu, phủ nào đó, “mùa hạ thực hiện lệnh mùa thu” hoặc “mùa thu thực hiện lệnh mùa xuân, trái với thiên thời, mà đã xuất hiện đủ các dấu hiệu cảnh báo của thiên tượng.

Những năm Hán Hòa Đế, một năm nọ, đã sắp đến mùa hạ, vốn là khí tương vạn vật hồi sinh, trái đất ấm áp, nhưng thời tiết vẫn lạnh lẽo thiếu hơi ấm. Quan đại thần Lỗ Cung quan sát được một số châu quân đã hành quyết tù phạm vào mùa hạ, chứ không phải vào mùa thu như truyền thống.

Theo ghi chép trong “Hạ lệnh”, người xưa cho rằng, mùa xuân vạn vật hồi sinh, nên không được bắt giết động vật, làm tổn hại cỏ cây; mùa thu ngũ cốc chín, vạn vật điêu linh, lúc này là thời cơ để thu hoạch, săn bắn. Đối với sinh mệnh con người thì cũng là đạo lý như thế, tuy nhiên nếu 1 người vào mùa hè phạm tội chết, cần phải thi hành, nhưng cũng chờ đến mùa thu mới xử tử. Như thế mới hợp với đạo của tứ thời. Đây là truyền thống mà người xưa lưu lại.

Do đó Lỗ Công can gián với Hán Hòa Đế rằng, chiểu theo những gì “Nguyện lệnh” nói, thì mùa hạ cần giảm nhẹ hình phạt, phóng thích phạm nhân tội nhẹ, vì việc nhà nông đang bận, nên để họ trở về hoàn thành cày cấy. Nếu mùa hạ thực hiện pháp lệnh mùa thu, xử tử hình, thế thì sẽ xảy ra hiện tượng mưa khổ liên tiếp, ngũ cốc không chính.

Lỗ Công nói tiếp, từ tháng 3 đến nay, khi hậu bất thường lạnh giá, cây trồng lẽ ra là bắt đầu sinh trưởng, nhưng tình hình sinh trưởng không tốt. Đây là biểu hiện của việc trên ngược thời khí, dưới tổn thương nông nghiệp.

Lỗ Cung lại thuật lại đạo lý của “Nguyệt lệnh”, đây là quy định do triều Chu chế định, kế thừa lễ nhà Hạ và nhà Thương. Triều đại tuy khác nhau, nhưng đạo lý này không thay đổi. Chính sự tứ thời, thực hiện đều như nhau. Trên thuận lòng Trời, dưới thuận mệnh vật, để đạt được sự hài hòa với thời tiết. Đây mới là đạo của vương giả.

Hán Hòa Đế nhận thấy Lỗ Cung nói có đạo lý, lệnh cho các châu quận không được thực thi hình phạt hà khắc vào mùa hạ, tuân theo trật tự của “Lễ ký – Nguyệt lệnh”, thuận theo thiên thời, hài hòa bách tính. Trong “Hậu Hán thư”, sử quan bình luận Hán Hòa Đế, nói rằng ông đã tuân theo truyền thống của tổ tiên, trừng phạt đại ác, tuyển chọn người hiền năng, đã làm tròn trách nhiệm của thiên tử.

Đến những năm Hán An Đế, một năm nọ, kinh thành và một số quận quốc liên tiếp mưa, ảnh hưởng đến thu hoạch. Hán An Đế xuống chiếu, “năm nay vốn hoa màu bội thu, sắp đến thu hoạch, nhưng mưa liên miên, e rằng sẽ ngập làm tổn hại ngũ cốc. Trẫm trằn trọc suy nghĩ tại sao lại xảy ra việc này, mưa không ngớt, là do nhân dân oán hận”.

Thời cổ đại, mỗi khi gặp thiên tai bất trắc, đều là triều đình để quần thần trực ngôn nói ra những tệ nạn. Sau khi hiểu rõ tình hình, Hán An Đế nói: “Quan võ lạm dung uy quyền ngược đãi thuộc hạ, quan văn thi hành chính sách hà khắc, quan lại mượn việc công làm điều gian, khiến bách tính hoạn nạn thống khổ. Sẽ trừng phạt công khai với những quan lại bê trễ, khinh mạn này”.

Hán An Đế lại nhấn mạnh một sự việc quan trọng, “hiện nay đã đến mùa thu, chiểu theo những ghi chép trong “Nguyệt lệnh”: ‘Giữa thu nuôi dưỡng bảo hộ người già yếu, tặng ghế và gậy cho người già, tặng cháo cho họ’. Hiện nay là tháng 8, chiểu theo hộ khẩu đăng ký, tặng ghế và gậy và cháo cho người già, nhưng đại bộ phận các quận hiện không thực hiện. Cũng có nơi phát cháo, nhưng trong cháo có lẫn vỏ trấu và lúa lép. Tình trạng như thế này, quan lại địa phương lại không đôn đốc kiểm tra, đích thân xử lý. Đây là trái với truyền thống mùa thu kính dưỡng người già. Tình hình như thế này cần phải lập tức sửa chữa, kính phụng người già, sửa chữa bù đắp lỗi lầm”. Các địa phương lại kiểm tra lại hộ khẩu đối chiếu những người già, phát bổ sung ghế, gậy và cháo.

Trong “24 bộ sử”, các triều đại đều lấy “Nguyệt lệnh” làm lễ, khi thiên tai nhân họa thì phản tỉnh bản thân, đó là cách làm phổ biến. Từ ‘nguyệt lệnh’ xuất hiện trên 260 lần.

Tử Du vấn lễ

Tại sao “Nguyệt lệnh” lại được coi trọng như vậy? Đạo lý của lễ tứ thời là thế nào? Tử Du – học trò của Khổng Tử, từng hỏi Khổng Tử: “Thưa thầy, cái gọi là lễ, có phải là trị sửa tà ác, bảo toàn mỹ đức tốt lành không?”

Khổng Tử nói: “Là như thế”.

Tử Du hỏi: “Vậy trị sửa tà ác và bảo toàn mỹ đức như thế nào?”

Khổng Tử nói: “Tế lễ ở ngoại ô vào sáng ngày Xuân phân và tối ngày Thu phân, là sự kính úy đối với Thượng Thiên. Tế tự tông miêu là sự tưởng nhớ đối với tổ tiên. Lễ tặng cúng tế, là biểu thị hiếu hạnh đối với người đã chết. Lễ hương xạ (bắn cung) và hương ẩm (uống rượu), là biểu thị nhân ái đối với dân chúng xóm làng. Lễ thết đãi là biểu thị sự tôn kính đối với tân khách”.

Tại sao có thứ tự trước sau như thế này? Khổng Tử nói tiếp: “Nếu hiểu rõ ý nghĩa lễ tế trời đất ở ngoại ô, hiểu tế lễ tông miếu mùa xuân và mùa thu, thế thì đối với việc trị sửa quốc gia, thì đã nắm rõ như lòng bàn tay rồi. Do đó, sinh hoạt hàng ngày có lễ, từ đó có sự phân biệt rõ lớn nhỏ già trẻ. Vì vậy, nội bộ gia đình có lễ, thì một gia đình 3 thế hệ hòa thuận. Triều đình có lễ, thì quan chức và tước vị có trật tự. Việc săn bắn có lễ, thì việc diễn tập quân sự thành thục. Do đó, có lễ thì cung đình có thước đo, dụng cụ đong đo và tế lễ có tiêu chuẩn, ngũ vị điều hòa cũng có sự phối hợp tứ thời, âm nhạc có tiết chế, xe cộ có quy luật phù hợp, quỷ thần ai nấy đều được hưởng cúng tế. Việc tang có thể biểu đạt được sự bi ai phù hợp. Biện luận trò chuyện cũng có trình tự thứ bậc. Bá quan ai giữ chức phận người ấy, chính sự được thi hành thuận lợi. Đem lễ vận dụng vào hành động của bản thân và hết thảy việc trước mắt, như thế thì tất cả đều có thể làm được tốt”.

Khổng Tử đã nói ra đạo lý “đại lễ và trời đất cùng tiết tấu”: “Lễ là trật tự của trời đất. Hài hòa cho nên trăm vật đều biến hóa, trật tự nên mọi vật đều khác biệt”. Vạn vật mỗi cái đều khác nhau, nhưng lại vận hành chiểu theo trật tự. Lễ là thước đo và nhịp điệu vận hành của vạn vật.

Hơn 2000 năm qua, “tế trời đất vào buổi sáng Xuân phân và buổi tối Thu phân” là đại lễ tế ngoại ô quan trọng nhất của các triều đại, truyền đạt cho thiên hạ tinh thần kính Trời, kính Thần, tạ ơn Trời, tạ ơn Thần. Tế lễ trời đất, mặt trời, mặt trăng, đã trở thành nội dung quan trọng “Kính trời, và làm theo tổ tiên”, và dần dần diễn biến thành những ngày lễ dân gian. Bằng các loại hình thức khác nhau, biểu đạt sự kính phụng đối với Thần và sự cảm ân đối với Thượng Thiên, đồng thời dùng đó làm quy phạm đạo đức luân lý nhân gian.

Ngày lễ tết truyền thống là tài sản quý báu trong văn hóa dân tộc Trung Hoa, thể hiện mạch Thần truyền của văn hóa Trung Hoa. Thời xưa, trên từ thiên tử, dưới đế bách tính, không ai là không tôn kính “Trời”, và lấy đó làm cơ điểm để quan sát và hành sự. Thế là mới có sự xuất hiện lý luận hoàn chỉnh “Thiên – nhân hợp nhất”, có một loạt nghi lễ kính Trời lễ Thần. Còn Trung Cộng thực hiện đấu với trời, đấu với đất, đấu với người, trong Cách mạng Văn hóa đã nhổ tận gốc văn hóa truyền thống. Năm 1999, Trung Cộng còn bức hại những học viên Pháp Luân Công tín ngưỡng Chân Thiện Nhẫn, khiến cho đạo đức xã hội biến mất, lòng người lãnh đạm. Chúng ta chỉ có vứt bỏ Trung Cộng, thoái xuất khỏi các tổ chức đảng đoàn đội của Trung Cộng, thì mới thuận ứng với đặc tính Chân Thiện Nhẫn của vũ trụ, thì mới xây dựng lại được trật tự xã hội bình thường, thì mối quan hệ giữa người với người mới hài hòa, gia đình mới có thể hạnh phúc mỹ mãn.

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/8/31/481399.html

Đăng ngày 07-11-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post Trung Thu nói về “Lễ” first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 3)https://vn.minghui.org/news/272847-tu-thuyet-van-giai-tu-nhin-coi-nguon-cua-chu-han-3.htmlWed, 06 Nov 2024 15:07:22 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=272847[MINH HUỆ 22-08-2024] (Tiếp theo Phần 1 Phần 2) 4. “Thiên – nhân hợp nhất” trong chữ Hán “Thiên – nhân cảm ứng”, “Thiên – nhân hợp nhất” là một đặc trưng quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Hoa. Trời tuy ở trên cao, nhưng mọi thời khắc đều có […]

The post Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 3) first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của Mịch Chân

[MINH HUỆ 22-08-2024] (Tiếp theo Phần 1 Phần 2)

4. “Thiên – nhân hợp nhất” trong chữ Hán

“Thiên – nhân cảm ứng”, “Thiên – nhân hợp nhất” là một đặc trưng quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Hoa. Trời tuy ở trên cao, nhưng mọi thời khắc đều có liên hệ với nhân gian: “Trời soi con người, giống như tấm gương”, “Làm việc thiện, Trời Đất đều biết; làm việc ác, Trời Đất cũng biết”. Những việc thiện ác ở nhân gian, Thượng Thiên thông qua thiên tượng để cảnh báo thế nhân, vì vậy từ xưa đến nay, có cách nói là “quan sát Đạo Trời để đối ứng Đạo của người”, hợp đức với Trời, giống như trong “Dịch Thư” có viết: “Dữ thiên địa hợp kỳ đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thời hợp kỳ tự” (hợp đức với trời đất, hợp sự sáng trong với nhật nguyệt, hợp trật tự với bốn mùa).

“Trời hiển thị thiên tượng, để thấy lành dữ. Đó là hiển thị cho con người. Từ Nhị (Nhị, cổ văn là chữ Thượng); Tam thùy là Nhật, Nguyệt, Tinh. Quan sát thiên văn, để quan sát sự biến đổi, biểu thị việc của Thần”.

“Thuyết văn giải tự” giải thích chữ Thị (hiển thị) là, Thượng Thiên hiển thị thiên tượng, là để báo trước lành dữ. Trên chữ Thị (示) là chữ Nhị (二), cổ văn Nhị nghĩa là Thượng (ở trên cao), ở dưới là chữ Tiểu (小) là Tam Thùy, đại biểu cho Nhật Nguyệt Tinh (mặt trời, mặt trăng và các vì sao), là ý tượng mà Thượng Thiên hiển thị cho con người. Khi xảy ra nhật thực, nguyệt thực, tinh tượng biến hóa, hạn hán, lũ lụt, thì các đế vương cổ đại sẽ quan sát thiên tượng, cho rằng mình trị quốc sai phương pháp, Thượng Thiên đưa ra cảnh cáo, thế là hạ chiếu trách tội bản thân, đại xá thiên hạ, để bày tỏ sự kính úy đối với Thần linh.

“Thuyết văn – Thị bộ” có 60 chữ, biểu thị Thần linh, tế tự, hoạ phúc, lễ chế và những nội dung liên quan đến Thiên Thần, như Lễ, Phúc, Tường (may mắn), Họa, Thần, Tế, Chúc (cầu nguyện), Xã (Thần thổ địa), Tổ (tổ tiên) v.v., đều từ chữ Thị (示) diễn hóa ra.

Chúng ta làm thế nào mới được Thượng Thiên bảo hộ?

“Lễ (禮) là thực hành. Dùng để thờ Thần để được phúc. Gồm bộ Thị (示) và chữ Lễ (豊 – dụng cụ đựng đồ tế lễ)”. Chữ Lễ (豊) là đồ dùng tế lễ, gồm bộ Đậu (豆 – đồ dùng đựng thực phẩm), tượng hình.

Lễ (豊) là đồ dùng tế lễ, dùng đồ dùng tế lễ để đựng lương thực và đồ hiến tế, thành kính dâng Thần linh, thì sẽ được Thần linh bảo hộ. Từ đồ dùng và nghi thức tế Thần mở rộng ra trong cuộc sống của mọi người, là cần phải tuân theo lễ nghi, phép tắc.

Cổ nhân nói “Quan thiên chi đạo, chấp thiên chi hành” (Quan sát Đạo Trời, thực hiện ý chỉ của Trời). Ý nghĩa của câu nói này là hiểu mệnh Trời, và thân thể và cái tâm thống nhất thực hiện. Mấy nghìn năm nay, đã hình hành tập tục kính Thiên, thuận Thiên, tín Thần bái Thần. “Lễ ký – Trung dung” có viết: “Giao Xã chi lễ là để thờ Thượng Đế”. Lễ Thần Xã là chỉ lễ tế Thiên Địa, ngày mùa đông tế Trời gọi là Giao, ngày mùa hạ tế Đất gọi là Xã, hợp thành Giao Xã.

Trong những ngày lễ truyền thống Trung Hoa, đều là từ tế tự diễn hóa ra. “Lễ ký – Nguyệt lệnh” có ghi chép rằng, vào ngày đầu tiên của năm mới, Thiên tử cần phải cử hành đại lễ tế Trời, còn phải cử hành các hoạt động “cầu ngũ cốc với Thượng Đế” và với Thần Nông Hậu Tắc. Ngày Lập Xuân, Thiên tử đích thân dẫn Tam công, Cửu khanh, Chư hầu, Đại phu, đi đón xuân ở ngoại thành phía Đông. Cảm ơn và ghi nhớ sự hóa dục của Trời Đất, cảm ơn mưa thuận gió hòa. Do đó đã xây dựng mối quan hệ giữa con người và Thần.

“Thuyết văn giải tự” có viết rằng: Phúc là phù hộ. Phúc (福) là từ chữ Phúc (畐) diễn hóa ra, Phúc (畐) nghĩa là đầy. Gồm chữ Cao (高) lược bớt đi, tượng hình cao và dày. Phúc (畐) là một loại đồ dùng tế lễ cổ đại, có bụng căng lên tượng trưng no đầy đa phúc, sau thêm bộ Thị (示) thành chữ Phúc (福). chữ Phúc (畐) và chữ Phúc (福) là cùng nghĩa.

Phần Nhã Tụng trong Kinh Thi có viết rằng: “Báo dĩ giới phúc, vạn thọ vô cương” (Dùng phúc báo đáp, sống trường thọ). Phúc cụ thể là gì? Người xưa quy kết thành 5 phương diện, gọi là Ngũ Phúc, tức Hạnh phúc, May mắn, Trường thọ, Mỹ đức, và An lành.

Nhà y dược và dưỡng sinh thời Đường là Tôn Tư Mạc, đã viết trong “Phúc thọ luận” rằng: “Phúc giả, tạo thiện chi tích dã; họa dã, tạo bất thiện chi tích dã” (Phúc là do sự tích lũy của những việc thiện; họa là do sự tích lũy của những việc bất thiện); “Phúc hề khả dĩ thiện thủ” (Phúc ư, đó là dùng thiện để có được phúc). Trong văn hóa truyền thống, mọi người kính Trời, kính Thần, an phận tri mệnh, tích đức hành thiện. Nho gia, Phật và và Đạo gia đều răn dạy mọi người: Tín Thần kính Trời, hướng thiện, trân quý phúc, tri ân báo đáp, thì mới có được hạnh phúc chân chính, thì mới được Thượng Thiên bảo hộ. Văn hóa truyền thống Trung Hoa được gọi là “Văn hóa Thần truyền”, quan niệm Thiên – nhân hợp nhất đã thể hiện sâu sắc mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên, giữa con người và xã hội, và giữa con người với con người. Mọi người đều tin vào chân lý thiện ác hữu báo: Người tích thiện thì Trời giáng cát tường, tích bất thiện thì Trời giáng tai ương. Do đó mọi người không ngừng tu dưỡng quy chính bản thân, trở về với chính niệm, lấy thiện làm gốc, lấy đức là cao quý nhất.

5. “Phản bổn quy chân” trong chữ Hán

Trong văn hóa truyền thống “Thiên – nhân hợp nhất”, có quá trình tịnh hóa “Tham thiên địa chi tạo hóa” (nghiên cứu sự tạo hóa của trời đất), và “hợp đức” với trời đất, thông qua tu luyện, học tập, có thể đạt được cảnh giới phản bổn quy chân, giác ngộ chân tướng vũ trụ.

Chúng ta hãy cùng xem “Thuyết văn giải tử” giải thích về chữ Chân (真): “Chân là Tiên nhân biến hình mà thăng lên trời”. Chữ Giáp cốt là chữ Nhân trên chữ Đỉnh (cái vạc lớn), biểu thị ý nghĩa Đạo gia “an đỉnh thiết lư” tu luyện để phản bổn quy nguyên, mà tu thành đắc Đạo phi thăng, tức tu thành “chân nhân”. Nghiên cứu khởi nguồn của chữ Chân (真) giúp chúng ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa Trung Hoa và văn hóa tu luyện.

Chữ Chân trong Giáp cốt văn là, phía trên là hình người phi thăng, phía dưới là cái đỉnh.

Vậy “Chân nhân” là khái niệm như thế nào? Tại sao sau khi tu luyện đắc Đạo lại gọi là Chân nhân?

Chiểu theo cách nói của giới tu luyện, sinh mệnh thực sự của con người là nguyên thần, người ta thường gọi là linh hồn. Nguyên thần của con người là sinh ra ở không gian cao tầng, sau này vì không phù hợp với yêu cầu tiêu chuẩn của không gian đó nữa, nên dần dần rơi xuống đến tầng không gian nhân loại này, sau khi đầu thai được thân thể người, trở thành người sống trên thế gian.

Nhục thể trong không gian nhân loại, chẳng qua chỉ là một tải thể của linh hồn tồn tại bình thường trong không gian này, đợi đến khi hết dương thọ, vứt bỏ nhục thể, linh hồn trở về nơi khác. Người tu luyện nếu tu luyện thành công, thì trở về thượng giới, hoặc gọi là thiên quốc, hoặc gọi là thiên đàng. Người thường không tu luyện, thông thường sẽ tiến nhập lục đạo luân hồi, người làm nhiều việc ác thì sẽ đọa địa ngục.

Tu luyện trở về là sinh mệnh bản ngã, Đạo gia gọi đó là “Chân nhân”. Có thể thấy, chữ “Chân” này biểu thị ý nghĩa như “bản nguyên, bản chất”, do đó sau này chữ Chân được mở rộng hàm nghĩa là “bản nguyên, bản chất”, như “Trang Tử – Thu thủy” có viết: “Cẩn thủ nhi vật thất, thị vị phản kỳ chân” (Cẩn thận giữ gìn, chớ để mất, thì đó gọi là trở lại cái Chân của mình), và câu mà người ta thường nói như “phản phác quy chân”, và câu mà giới tu luyện thường nói là “phản bổn quy chân” v.v.

Trong quá trình tu luyện, tu trì, sự nâng cao tiêu chuẩn đạo đức là căn bản của sự thăng hoa cảnh giới.

Trong “Thuyết văn giải tự” có viết: “Đức, thăng dã” (đức là thăng lên). Trong chữ Giáp cốt, chữ Đức là một con mắt người ở giữa đường, một đường thẳng hướng lên, biểu thị con người cần phải tuân theo thẳng (chính trực) mà đi, thì mới là chính đạo. Trong chữ Kim văn, bên dưới chữ Mục (mắt) có thêm chữ Tâm, biểu thị không chỉ mắt nhìn phải chính, mà còn phải tâm chính, và trong hành động trước sau như một, thì người như thế này có thể gọi là người có đức.

“Đức” được coi là đặc tính bản chất trong vũ trụ, phù hợp với đạo pháp của vạn vật.

  • Đức giả đạo chi xá, vật đắc dĩ sinh (Đức là nơi cư ngụ của Đạo, vạn vật đắc được đức mà sinh trưởng. (“Quản Tử – Tâm thuật thượng”).
  • Khổng đức chi dung, duy đạo thị tùng (Hình thái của đức lớn là chuyển dịch theo Đạo) (“Lão Tử – chương thứ 21”)
  • Đạo sinh chi, đức súc chi, vật hình chi, thế thành chi. Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn đạo nhi quý đức. (Đạo sinh ra vạn vật, đức nuôi dưỡng vạn vật, vạn vật hiển hiện các loại hình dạng hình thái, môi trường khiến vạn vật sinh trưởng. Do đó vạn vật không cái gì là không tôn kính đạo và coi trọng đức. (“Lão Tử – chương thứ 51”)
  • Duy đức động thiên, vô viễn phất giới. (Chỉ có đức mới cảm động được Trời, không nơi xa xôi nào mà không tới được). (“Thư – Đại Vũ mô”)
  • Đức vô thường sư, chủ thiện vi sư; thiện vô thường chủ, hiệp ư khắc nhất. (Tu dưỡng đức hạnh không có khuôn mẫu cố định, chỉ chú trọng vào lấy hành thiện làm khuôn mẫu, làm thầy. Hành thiện không có phép tắc bất biến, chỉ cần luôn bảo trì được cái tâm thuần chính. (“Thư – Hàm hữu nhất đức”)

Trung Quốc cổ đại có cách nói “tích đức”, “thủ đức”, “tổn đức”, “thất đức”. Hành xử thuận theo Đạo, là có thể thủ đức, và tích đức. Hành xử trái ngược với Đạo, thì là thất đức và tổn đức. Việc du dưỡng đạo đức, đều là mệnh đề trung tâm trong văn hóa phương Đông và phương Tây.

  • Tri thức chân chính là đạo đức. (Socrates)
  • Con đường đức hạnh là rất hẹp, con đường ác hạnh là thênh thang. (Cervantesz)
  • Cái đẹp là biểu hiện của thiện về đạo đức. (Kant)
  • Chân thực bao gồm đạo đức, vĩ đại bao gồm cái đẹp. (Hugo)
  • Đạo đức và tài nghệ là vượt xa tài sản giàu sang, con cháu sa đọa có thể hủy hoại gia đình hiển quý, tiêu tán tài sản khổng lồ, nhưng đạo đức và tài nghệ thì có thể khiến một người bình thường trở thành Thần bất hủ. (Shakespeare)

Trong “Thuyết văn giải tự”, chỉ có chữ “Đức” là giải thích là “thăng lên”, còn các cái khác đều là lượng từ như 1 thăng, vài thăng. Có thể thấy, người xưa cho rằng, sự nâng cao thực sự của cảnh giới con người, thì quan trọng nhất là đức hạnh và tâm tính, đây là Đạo căn bản phản bổn quy chân.

(Hết)

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/8/22/从《说文解字》看汉字的渊源(3)-480633.html

Đăng ngày 06-11-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 3) first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Cuộc thi Piano Quốc tế của Đài Truyền hình NTD tái hiện vẻ huy hoàng của âm nhạc cổ điểnhttps://vn.minghui.org/news/272444-cuoc-thi-piano-quoc-te-cua-dai-truyen-hinh-ntd-tai-hien-ve-huy-hoang-cua-am-nhac-co-dien.htmlSat, 26 Oct 2024 02:33:30 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=272444[MINH HUỆ 23-10-2024] Cuộc thi Piano Quốc tế lần thứ 7 của Đài Truyền hình NTD (NIPC) đã diễn ra tại Trung tâm Âm nhạc Kaufman ở thành phố New York từ ngày 14 đến 19 tháng 10 năm 2024. Các nghệ […]

The post Cuộc thi Piano Quốc tế của Đài Truyền hình NTD tái hiện vẻ huy hoàng của âm nhạc cổ điển first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của các học viên Pháp Luân Đại Pháp tại New York

[MINH HUỆ 23-10-2024] Cuộc thi Piano Quốc tế lần thứ 7 của Đài Truyền hình NTD (NIPC) đã diễn ra tại Trung tâm Âm nhạc Kaufman ở thành phố New York từ ngày 14 đến 19 tháng 10 năm 2024. Các nghệ sỹ piano từ Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ đã tụ họp với thông điệp chung là khôi phục vẻ huy hoàng của âm nhạc cổ điển. Có 10 thí sinh lọt vào vòng bán kết và 5 thí sinh tiến vào vòng chung kết.

Cuộc thi Piano Quốc tế là một phần trong chuỗi sự kiện văn hóa và nghệ thuật quốc tế do Đài Truyền hình NTD (NTDTV) tài trợ. Sứ mệnh của cuộc thi là quảng bá nghệ thuật truyền thống với sự thuần Chân, thuần Thiện, và thuần Mỹ. NTDTV bắt đầu tổ chức các cuộc thi piano từ năm 2008, thu hút sự tham gia của các nghệ sỹ tài năng từ khắp nơi trên thế giới.

Ngoài các bản nhạc piano từ các thời kỳ Baroque, Cổ điển và Lãng mạn, còn có một tác phẩm đặc biệt chọn riêng cho cuộc thi, được cải biên từ một tác phẩm thanh nhạc do Giám đốc Nghệ thuật DF của Đoàn Nghệ thuật Biểu diễn Shen Yun sáng tác. Tác phẩm được chọn cho năm nay, “Holy Grace” (Thánh Ân) là nhạc cổ điển Trung Hoa dành cho piano. Các thí sinh lọt vào vòng bán kết có cơ hội tranh giải “Giải trình diễn xuất sắc nhất cho tác phẩm được chọn.”

Ngày 19 tháng 10, trước lễ công bố giải thưởng là buổi hòa nhạc dành cho những người chiến thắng với sự góp mặt của những thí sinh tiến vào chung kết năm nay, cùng các màn biểu diễn đặc biệt của Vladimir Petrov, người giành Giải Vàng của Cuộc thi Piano quốc tế NTD năm 2019, và các nghệ sỹ piano nổi tiếng Kiron Atom Tellian, Arseniy Gusev và Asiya Korepanova.

ea79d85f7d12b50cd7fe528418327266.jpg

Những thí sinh đoạt giải và người trao giải trên sân khấu của Merkin Hall tại Trung tâm Âm nhạc Kaufman ở thành phố New York

Thí sinh đoạt giải vàng

760009a9bf9446caf455f661cde6e93f.jpg

Thí sinh đoạt giải vàng Robert Neumann (bên phải) đến từ Đức

208dd600b3a8ebc11850ceeab2d6d040.jpg

Anh Robert Neumann biểu diễn tại buổi hòa nhạc dành cho người chiến thắng Cuộc thi Piano Quốc tế lần thứ 7 của NTDTV.

Anh Robert Neumann đến từ Đức đã đoạt Giải Vàng và Giải Trình diễn xuất sắc nhất cho tác phẩm được chọn. Anh sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc và cả cha mẹ anh đều là nhạc sỹ.

Anh cho biết anh rất thích Buổi hòa nhạc của những người chiến thắng. “Trong số đó có những màn trình diễn tuyệt hay… Có những màn trình diễn rất thú vị. Một số màn trình diễn thực sự khiến tôi xúc động”, anh nói.

Trước lễ trao giải, anh cũng chia sẻ về tác phẩm được chọn năm nay “Holy Grace”. “[Holy Grace] kết nối chặt chẽ thiên nhiên và trạng thái hoàn hảo của thế giới nội tâm con người”, anh cho biết.

Thí sinh đoạt giải bạc

fe7403f2e6e1a0c5a7cafb3d4a1edefb.jpg

Thí sinh đoạt giải bạc Shih-Yeh Lu đến từ Đài Loan biểu diễn trong Buổi hòa nhạc của những người chiến thắng.

Thí sinh Shih-Yeh Lu đến từ Đài Loan không chỉ giành giải bạc mà còn đoạt giải trình diễn xuất sắc nhất cho tác phẩm được chọn.

Anh Lu bắt đầu học piano từ năm 6 tuổi và đã chơi piano được khoảng 20 năm. Năm ngoái, anh nhận bằng Thạc sỹ tại Đại học Âm nhạc và Nghệ thuật Biểu diễn Vienna. Đồng thời, anh cũng hoàn thành nghĩa vụ quân sự tình nguyện tại Đài Loan.

Sau buổi chung kết, anh Lu cho biết: “Tôi chỉ cảm thấy điều quan trọng là đạt được mục tiêu cá nhân của mình, và không cố ý cạnh tranh với bất kỳ ai. Vậy nên, khi được vào chung kết tôi rất vui. Tôi được biểu diễn tất cả các tiết mục mà tôi đã chuẩn bị, và điều đó khiến cho tất cả những ngày tháng chuẩn bị của tôi trở nên xứng đáng.”

Tác phẩm đầu tiên anh Lu trình bày trong vòng chung kết là bản “Prelude, Chorale and Fugue” của bậc thầy piano người Pháp César Franck.

“Hóa ra, bản nhạc này đã tích hợp tất cả các yếu tố và tất cả các chủ đề từ hai vòng trước, mọi thứ được trình bày cùng lúc. Đó là một cảm giác rất tuyệt vời. Và so với các tẩu pháp trước đó, mặc dù tẩu pháp là một kỹ thuật sáng tác, nhưng cách kết hợp cảm xúc cá nhân vào kỹ thuật là điều tôi nghĩ Franck đã làm rất tốt,” anh nói.

Anh cũng chia sẻ bài học lớn nhất của mình khi tham gia cuộc thi piano quốc tế. “Tôi nghĩ bài học lớn nhất đối với tôi là cố gắng hiểu ý nghĩa của sân khấu và cách tạo kết nối với khán giả – cách tôi có thể thể hiện bản thân tốt hơn. Đây là hiểu biết sâu sắc nhất mà tôi có được trong suốt cuộc thi”, anh Lu cho biết.

Chuyển thể tác phẩm được ủy quyền

Từ năm 2016, trong mỗi cuộc thi hàng năm sẽ có một tác phẩm mới độc đáo, có sự pha trộn giữa nhạc cổ điển phương Đông và phương Tây, được chọn và chỉ định biểu diễn. Năm nay, các thí sinh có tám tuần để chuẩn bị cho tác phẩm trình diễn trong vòng bán kết.

Nhà soạn nhạc và nghệ sỹ piano Cầm Viện từ Đoàn Nghệ thuật Biểu diễn Shen Yun đã chuyển thể tác phẩm năm nay, “Holy Grace”. Bà cho biết bà rất ấn tượng với các màn trình diễn tác phẩm này.

“Điều tôi vốn muốn thể hiện là cảm giác yêu thương và hy vọng. Các thí sinh thực sự mang đến cho chúng tôi tình yêu thương và hy vọng, và tôi có thể cảm nhận được điều đó,” bà nói. “Đồng thời, tên của tác phẩm này là ‘Holy Grace’. Điều tôi hy vọng là, dù trong thời điểm tốt hay xấu, tất cả chúng ta đều có thể giữ một trái tim tràn đầy lòng biết ơn—thể hiện sự trân trọng đối với những người xung quanh và Đấng Tạo Hóa vì tất cả những gì Ngài đã ban cho chúng ta.”

Sau vòng bán kết, bà cho biết: “Các thí sinh đã mang đến cho tôi một bất ngờ lớn, và tôi cảm thấy mình đã học hỏi được rất nhiều điều… Thí sinh đến từ nhiều dân tộc và có trải nghiệm sống khác nhau, sự hiểu biết về âm nhạc, hiểu biết về cuộc sống và lĩnh vực nghệ thuật của mỗi người cũng khác nhau. Do đó, tôi thấy được sự phong phú trong cách thể hiện tác phẩm của họ hôm nay vượt xa trí tưởng tượng của tôi”.

Nghệ sỹ piano đánh giá cao cuộc thi

Ông James Bassi là một nhà soạn nhạc, nghệ sỹ piano, giám đốc âm nhạc đến từ New York. Tác phẩm của ông đã được biểu diễn tại các nhà hát nổi tiếng như Carnegie Hall và Lincoln Center. Ông rất ấn tượng với các kỹ năng mà các thí sinh thể hiện tại cuộc thi, đặc biệt là khi chơi một nhạc phẩm khó như vậy.

“Những yêu cầu của tiết mục độc tấu, kỹ năng, sự thuần thục và cảm hứng là những điều rất đặc biệt”, ông nói. “Thật tuyệt vời khi được chứng kiến ​​những tài năng trẻ ở đây”.

Sau những năm 1900, âm nhạc piano phát triển nhanh chóng, trở nên ấn tượng và cuối cùng là vô thanh điệu. Cuộc thi của NTDTV nhằm mục đích duy trì âm nhạc cổ điển xuất chúng từ thời kỳ baroque, cổ điển và lãng mạn.

“Khi chơi tiết mục này cần phải có một mức độ thuần thục nhất định ”, ông nói. Ông cho biết việc thưởng thức những bản nhạc trong cuộc thi đã truyền động lực cho ông cải thiện, và rằng ông “được truyền cảm hứng để luyện tập ở nhà và phải công nhận rằng có rất nhiều tài năng và vẻ đẹp trên thế giới”.

Ông Bassi đánh giá cao việc cuộc thi của NTDTV mang tầm quốc tế vì khán giả được nghe những “thanh âm” khác nhau của mỗi thí sinh.

Ông cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với NTDTV vì đã hỗ trợ nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là vì nhạc cổ điển không được nhiều người Mỹ ủng hộ.

“Cảm ơn các bạn đã tổ chức cuộc thi và ủng hộ những nhạc sỹ và bản nhạc tuyệt vời”, ông nói.

Ông cho biết thêm: “Phần lớn kinh phí hiện nay đều đổ vào nhạc pop”.

Danh sách người chiến thắng trong Cuộc thi Piano Quốc tế lần thứ 7 của NTDTV:

Giải Vàng

Robert Neumann, Đức

Giải Bạc

Shih-Yeh Lu, Đài Loan

Giải Đồng

Tang Hsing Lien, Đài Loan

Giải biểu diễn xuất sắc

Ching-Yi Lin, Đài Loan

Jean-Luc Therrien, Canada

Giải bản nhạc được chọn

Robert Neumann, Đức

Shih-Yeh Lu, Đài Loan

Giải Khuyến khích

Karen Yoshida, Canada

Takeshi Shimozato, Nhật Bản

Yun-Hsuan Shannon Chiang, Đài Loan

Boris Krivoshein, Nga

Wei Wu, Đài Loan

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/10/22/484151.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2024/10/23/221339.html

Đăng ngày 26-10-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post Cuộc thi Piano Quốc tế của Đài Truyền hình NTD tái hiện vẻ huy hoàng của âm nhạc cổ điển first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Cuộc thi Giọng hát Trung Hoa Quốc tế hồng dương nghệ thuật thanh nhạc thuần chínhhttps://vn.minghui.org/news/271686-cuoc-thi-giong-hat-trung-hoa-quoc-te-hong-duong-nghe-thuat-thanh-nhac-thuan-chinh.htmlFri, 27 Sep 2024 15:29:32 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=271686[MINH HUỆ 24-09-2024] Từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 9 năm 2024, Cuộc thi Giọng hát Trung Hoa Quốc tế lần thứ 9 của Đài Truyền hình NTD đã diễn ra ở New York. Cuộc thi hội tụ các nghệ sỹ […]

The post Cuộc thi Giọng hát Trung Hoa Quốc tế hồng dương nghệ thuật thanh nhạc thuần chính first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của một học viên Pháp Luân Đại Pháp tại New York

[MINH HUỆ 24-09-2024] Từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 9 năm 2024, Cuộc thi Giọng hát Trung Hoa Quốc tế lần thứ 9 của Đài Truyền hình NTD đã diễn ra ở New York. Cuộc thi hội tụ các nghệ sỹ đến từ 8 quốc gia, 10 thi sinh đã lọt vào vòng chung kết trong đó hai thí sinh đã được trao giải vàng.

Cuộc thi là một trong chuỗi sự kiện văn hóa và nghệ thuật quốc tế do Đài Truyền hình NTD tổ chức. Cuộc thi nhằm tôn vinh nghệ thuật thanh nhạc truyền thống thuần chân, thuần thiện và thuần mỹ, cung cấp một vũ đài đẳng cấp quốc tế cho tất cả các giọng ca tiếng Trung thể hiện tài năng của họ.

Cuộc thi độc đáo ở chỗ các thí sinh được yêu cầu chỉ hát theo phong cách bel canto, và phải trình diễn ít nhất một bài hát bằng tiếng Trung. Cuộc thi mời những giọng ca của Đoàn Nghệ thuật Biểu diễn Shen Yun nổi tiếng thế giới tham gia với tư cách là ban giám khảo.

Bel canto, trong tiếng Ý nghĩa là “giọng hát đẹp”, được đặc trưng bởi sự trong trẻo, mượt mà, vẻ đẹp của âm sắc và sự ngân nga. Đây là phong cách hát chủ đạo trong thời kỳ hoàng kim của Opera Ý và gắn liền với hai nhà soạn nhạc Mozart và Rossini. Một sự thật ít người biết đến là kỹ thuật thanh nhạc này cũng từng được sử dụng trong các nhà hát Trung Quốc cổ đại.

a7676ad2715ede113b8835233743082e.jpg

Những thí sinh đoạt giải trong Cuộc thi Giọng hát Trung Hoa Quốc tế tại khán phòng Merkin của Trung tâm Âm nhạc Kaufman ở New York vào ngày 21 tháng 9.

71e292252cd385defabfb5bd4464e3b8.jpg

CEO của Đài Truyền hình NTD (NTDTV), bà Janice Trey (bên trái) trao giải cho hai thí sinh đoạt giải vàng, thí sinh giọng nữ trungTrương Xuân Thanh và thí sinh giọng nữ cao Lý Nhạc

Bà Lucy Zhou, trưởng ban tổ chức cuộc thi, chúc mừng tất cả các thí sinh từ khắp nơi trên thế giới đã vượt quãng đường xa xôi đến tham gia cuộc thi của NTDTV ở New York.

“Tất cả những giọng ca này đều thật sự đáng cảm kích khi đã đứng trên sân khấu này và tham gia vào sứ mệnh phục hưng văn hóa truyền thống của chúng tôi, chung tay vào sứ mệnh lịch sử này”, bà Zhou cho biết.

Thí sinh giọng nữ trung Lưu Phụng Trân đến từ Hoa Kỳ đoạt giải bạc.

a1d8c62ea0773084e3d6481bf8371259.jpg

Bà Khương Mẫn, trưởng ban giám khảo cuộc thi và là giọng nữ cao của Đoàn Nghệ thuật Biểu diễn Shen Yun, trao giải bạc cho thí sinh giọng nữ trung Lưu Phụng Trân.

Ba thí sinh đoạt giải đồng gồm giọng nam trung Trịnh Thiệu Phùng đến từ Hoa Kỳ; giọng nam cao Hoàng Tuấn Văn đến từ Malaysia; và giọng nam cao Quý Sơ Thành đến từ Hoa Kỳ.

34fbdb8967d4640f01a07740d287cc82.jpg

Bà Lucy Zhou, trưởng ban tổ chức cuộc thi, trao giải đồng cho các thí sinh: giọng nam cao Quý Sơ Thành, giọng nam trung Trịnh Thiệu Phùng và giọng nam cao Hoàng Tuấn Văn.

Giải xuất sắc được trao cho các giọng nữ cao: Nguyễn Minh Châu đến từ Việt Nam, Jieun Lee đến từ Hàn Quốc, Hoàng Gia Di đến từ Hoa Kỳ, và Trương Ngọc Xuyên đến từ Canada.

ad00f2d610f22f5949681aa3480cf765.jpg

Bà Lucy Zhou trao giải xuất sắc cho các thí sinh giọng nữ cao Hoàng Gia Di, Trương Ngọc Xuyên, Nguyễn Minh Châu và Jieun Lee.

Thí sinh đoạt giải vàng Trương Xuân Thanh: Cơ hội đặc biệt

2b86e91b9fd198466c1f5f0232dbdeae.jpg

Thí sinh giọng nữ trung Trương Xuân Thanh biểu diễn trong Cuộc thi Giọng hát Trung Hoa Quốc tế lần thứ 9 của Đài Truyền hình NTD.

Sinh ra ở Trung Quốc, giọng ca đoạt giải vàng Trương Xuân Thanh theo đuổi sự nghiệp biểu diễn thanh nhạc và opera tại Châu Âu, nhưng hiện nay cô lưu diễn và giảng dạy trên khắp thế giới. Cô lấy bằng cử nhân tại Nhạc viện Thượng Hải, sau đó cô theo học sau đại học về biểu diễn thanh nhạc và giảng dạy thanh nhạc tại Học viện Âm nhạc Hanns Eisler Berlin ở Berlin. Cô cho biết cuộc thi của NTDTV cho cô bước lên một vũ đài mà không cuộc thi nào khác có thể làm được.

Cô Trương đã trình bày nhạc phẩm “Một đêm mùa xuân tuyệt vời”, một bài hát Trung Hoa cổ được viết cho đàn tỳ bà, còn gọi là đàn lute Trung Quốc. Cô Trương rất xúc động trước phản ứng của khán giả đối với cách cô thể hiện lại giai điệu vốn rất đỗi quen thuộc này.

“Tôi biểu diễn ở nhiều nhà hát lớn khắp Châu Âu, nhưng tôi chưa bao giờ có dịp thể hiện ca khúc này”, cô cho biết.

Cô Trương cho hay cô biết ơn cơ hội được chia sẻ những giai điệu đẹp và vẻ đẹp của văn hóa truyền thống Trung Hoa. “Và tôi rất vui với phản ứng của khán giả. Mọi người cảm nhận được điều tôi muốn truyền tải”, cô cho biết. “Toàn thể người Trung Quốc đều biết đến câu chuyện và giai điệu này, và tôi hy vọng được mang nó đến với tất cả mọi người trên thế giới.”

Thí sinh đoạt giải vàng Lý Nhạc: “Một vũ đài vô cùng quý giá”

be2bb72364ffc8555a7897945e0c11a6.jpg

Thí sinh giọng nữ cao Lý Nhạc biểu diễn tại Cuộc thi Giọng hát Trung Hoa Quốc tế lần thứ 9 của Đài Truyền hình NTD.

Thí sinh đoạt giải vàng Lý Nhạc học đàn piano từ khi còn nhỏ và hiện đang theo học nghệ thuật thanh nhạc tại một trường âm nhạc nổi tiếng. Cô cho hay cô biết ơn vì NTDTV đã cung cấp một vũ đài cho văn hóa truyền thống Trung Hoa. Cô đã thể hiện nhạc phẩm “An định trước phong ba”, một bài thơ thời nhà Tống của nhà thơ nổi tiếng Tô Thức.

“Đây là một vũ đài vô cùng quý giá, và có lẽ là duy nhất trên thế giới tôn vinh phong cách hát bel canto Trung Quốc, và tại Hoa Kỳ”, cô cho biết. “Tôi luôn mơ ước được hát những bài hát Trung Hoa trên sân khấu toàn cầu.”

Những thí sinh đoạt giải: “Một trải nghiệm quý giá”

“Đây là khởi đầu tốt đối với tôi. Giải thưởng khiến tôi tự tin hơn và được khích lệ rất nhiều”, thí sinh đoạt giải bạc Lưu Phụng Trân cho biết.

Thí sinh đoạt giải đồng Hoàng Tuấn Văn cho hay: “Tôi đánh gia rất cao NTDTV vì đã mang vũ đài này đến với những nghệ sỹ chúng tôi. Cuộc thi cũng cho tôi cơ hội kết thêm nhiều bạn mới. Đây là một trải nghiệm quý giá.”

Anh Trịnh Thiệu Phùng, cũng là thí sinh đoạt giải đồng, chia sẻ: “Giải thưởng này là sự kích kệ đối với tôi. Tôi còn học được kinh nghiệm trên sân khấu và thấy được những thiếu sót của mình. Cảm ơn NTDTV rất nhiều.”

Thí sinh đoạt giải đồng Quý Sơ Thành cho hay: “Cuộc thi do NTDTV tổ chức đang đóng góp vào sự nghiệp ca hát của người Trung Quốc. Đây cũng là sự khích lệ to lớn đối với tôi. Đây là sự khởi đầu rất tốt cho sự nghiệp nghệ thuật của tôi.”

Khán giả: “Ý nghĩa và mới mẻ”

Buổi chung kết đã thu hút hàng trăm khán giả đến xem, trong đó có nhà bình luận chính trị kiêm tác giả Trần Phá Không. Ông nhận xét: “Kỹ thuật vượt ngoài mong đợi của tôi. Ngoài ra, các thí sinh hát tiếng Trung đến từ khắp nơi trên thế giới và tất cả đều mang theo phong cách của các quốc gia khác nhau. Vì vậy, không chỉ trình độ cao mà còn rất lịch thiệp.”

“Là một khán giả, tôi nghĩ cuộc thi này rất có ý nghĩa và mới mẻ. Cuộc thi khơi dậy niềm đam mê nghệ thuật thanh nhạc của mọi người”, ông Trần cho hay.

Bà Trương Tinh, người sáng lập tổ chức Quyền Phụ nữ ở Trung Quốc có trụ sở đặt tại New York, cho biết: “Nhìn chung, trình độ của cuộc thi rất cao. Khán giả rất thích thú”. Bà cho hay bà không biết bel canto có thể thể hiện những ca khúc Trung Hoa tuyệt vời đến vậy. “Thật tuyệt vời. Mọi người đều thích loại hình hình nghệ thuật đẳng cấp này. Điều đó làm cuộc thi trở nên đặc biệt. Tôi hy vọng NTDTV sẽ tiếp tục tổ chức những cuộc thi như thế này”, bà Trương cho hay.

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/9/24/483268.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2024/9/25/221010.html

Đăng ngày 27-09-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post Cuộc thi Giọng hát Trung Hoa Quốc tế hồng dương nghệ thuật thanh nhạc thuần chính first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 2)https://vn.minghui.org/news/271625-tu-thuyet-van-giai-tu-nhin-coi-nguon-cua-chu-han-2.htmlTue, 24 Sep 2024 08:48:37 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=271625[MINH HUỆ 15-08-2024] (Tiếp theo Phần 1) 3. Thiên thể, vũ trụ và nhân gian trong chữ Hán “Thuyết văn giải tự” đã nói rõ cội nguồn của chữ Hán: Ngẩng nhìn các thiên tượng trên trời, cúi nhìn các phép tắc dưới đất, quan sát hoa văn của các loài […]

The post Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 2) first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của Mịch Chân

[MINH HUỆ 15-08-2024] (Tiếp theo Phần 1)

3. Thiên thể, vũ trụ và nhân gian trong chữ Hán

“Thuyết văn giải tự” đã nói rõ cội nguồn của chữ Hán: Ngẩng nhìn các thiên tượng trên trời, cúi nhìn các phép tắc dưới đất, quan sát hoa văn của các loài chim thú và sự thích nghi với địa phương, gần thì lấy từ bản thân, xa thì lấy từ các vật”. Cũng có nghĩa là, từ thiên văn, địa lý, đến chim thú, cá tôm côn trùng, từ những vật xung quanh con người, đến những sự vật xa lạ ở xa, tất cả đều được rút gọn ‘kiểu toàn tức’ (mang theo toàn bộ thông tin) vào trong chữ Hán.

Khi giới thiệu văn tự tượng hình, Hứa Thận lấy ví dụ chữ “Nhật, Nguyệt”.

“Nhật (日 – mặt trời): nghĩa là đầy. Tinh khí Thái dương không hao hụt”

“Nhật: nghĩa là đầy”, cổ nhân cho rằng, trên mặt trời có con quạ vàng, Vương Sung đời Hán viết trong “Luận hoành – Thuyết nhật” rằng: “Nhà Nho nói rằng: trên mặt trời có con quạ 3 chân, trên mặt trăng có thỏ, cóc”.

“Nguyệt (月 – mặt trăng): là khuyết. Tinh khí Thái âm”.

Mỗi ngày đều có thể nhìn thấy mặt trời, mặt trăng, chữ tượng hình có mặt trực quan. Chữ Đán (旦 – buổi sáng), là hình mặt trời nhô lên khỏi đường chân trời, biểu thị trời đã sáng rồi. Chữ Tịch (夕 – buổi tối), là hình nửa mặt trăng mọc ra, biểu thị đã đến tối rồi. Đây là phương diện chữ tượng hình phù hợp với ấn tượng thường nhật của mọi người.

Chữ Đán trong Kim văn. Kim văn là chữ khắc đúc trên đồ đồng, Giáp cốt văn là chữ khắc trên mai rùa, là văn tự thời kỳ Thương Chu.

Chữ tượng hình có mặt trực quan, rõ ràng, nhưng đồng thời nó cũng có hàm nghĩa thần thánh, cao xa. Chữ Nhật (mặt trời) là tinh thái dương, Nguyệt (mặt trăng) là tinh thái âm. Người xưa cho rằng, mặt trời là tinh thái dương, chủ trì về sinh dưỡng ân đức, là tượng trưng cho quân vương”. Thái dương chiếu khắp vạn vật, có ân đức nuôi dưỡng sinh mệnh. Trong văn hóa truyền thống Thiên – nhân hợp nhất của Trung Quốc, thì thiên tượng đối ứng với cát hung, họa phúc nhân gian, quan sát nhật thực, đối chiếu nhân gian, đó là cách làm thông thường của các triều đại dùng để “xem lành dữ”, khi xuất hiện nhật thực, là biểu thị bậc quân vương có chỗ thất đức, “tu sửa đức hạnh thì cái dữ cái hại bị loại trừ”. Vì vậy trong “24 bộ sử”, bất kể triều đại nào, nếu xuất hiện nhật thực, thì không triều đại nào là không xem xét án tù oan, nghe lời trực ngôn, tu đức kính Trời, bù đắp sai lầm, những việc thế này có ở khắp mọi nơi.

Ngoài mặt trời, mặt trăng ra còn có các vì sao đầy trời, người xưa cho rằng, những vì sao trên trời này cũng đối ứng với nhân gian.

Chữ Tinh (星 – ngôi sao) trong Kim văn cũng là chữ tượng hình, giống như mấy mặt trời nhỏ hội tụ với nhau, ngụ ý là những vì sao lấp lánh trên trời cao. “Thuyết văn” giải thích chữ Tinh rằng: “tinh của vạn vật, trên trời là các vì sao”. Cho rằng vạn vật trên mặt đất, là đối ứng với các vì sao trên trời.

Sự luân chuyển của mặt trời, mặt trăng và các vì sao có quy luật gì không?

Trong “Thuyết văn giải tự” có giải thích về chữ Tuế rằng: “đó là sao Mộc. Trải qua 28 vì sao, bố cáo khắp âm dương, 12 tháng một lần”. Sao Mộc cũng được gọi là Tuế tinh, người xưa cho rằng sao Mộc cứ 12 năm đi một vòng trên trời, mỗi năm đi được một ‘thứ’, do đó 12 tháng cũng gọi là ‘một thứ’, cũng có nghĩa là, sao Mộc đi được một phần 12 vòng trên bầu trời, đó chính là một năm, nên gọi là Tuế tinh.

Bầu trời mà sao Mộc đi được một vòng, người xưa dùng chữ Viên (圜 – bầu trời) để biểu thị, chữ Viên này thông với chữ Viên (圓 – tròn, hình tròn). Trong “Thuyết văn giải tự” giải thích “chữ Viên (圜 – bầu trời) là Thiên thể. Viên là tròn”. Trong “Thiên vấn”, Khuất Nguyên đã từng viết rằng: “Viên tắc cửu trùng, thục doanh độ chi?” Bầu trời chín tầng, ai điều khiển sự vận hành của nó?

Sao Mộc vận hành một vòng trên bầu trời là thời gian 12 năm, trải qua bốn phương vị đông tây nam bắc, mỗi phương vị đều có bảy ngôi sao, tổng cộng 28 ngôi sao. Bốn phương vị lần lượt là Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ, trong văn hóa truyền thống, chúng tượng trưng có các vị Thần bảo hộ bốn phương.

Bốn phương, 28 vì sao, trở thành hệ tham chiếu ghi chép năm trong lịch pháp cổ đại của Trung Quốc.

Tuế là tên cổ của sao Mộc, cùng với bốn hành tinh Kim, Thủy, Hỏa, Thổ gọi là Ngũ tinh. Để quan trắc sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và Ngũ tinh, người xưa đã lựa chọn 28 chòm sao gần đường Hoàng đạo (tức là quỹ đạo vận hành của mặt trời trong một năm nhìn từ trái đất) làm tiêu chí, gọi là Nhị thập bát tú (28 ngôi sao).

Trong “Tiền Hán thư” có viết rằng, “các nhà thiên văn dùng 28 chòm sao, đánh dấu sự vận hành của Ngũ tinh, mặt trời, mặt trăng, để ghi chép thiên tượng hung cát, là điều mà các Thánh vương dùng để tham khảo việc triều chính. Kinh Dịch viết rằng: Quan sát thiên văn, để xem xét sự biến đổi thời cuộc”. Quan trắc thiên tượng, dùng 28 ngôi sao làm tham chiếu, quan sát sự thay đổi của Ngũ tinh, mặt trời mặt trăng trong quá trình vận hành, để xác nhận sự thay đổi cát hung ẩn chứa trong đó, Thánh vương căn cứ vào sự biến đổi của thiên tượng để trị lý thiên hạ. Trong “24 bộ sử”, ghi chép của các triều đại về quan trắc thiên văn đều vô cùng chi tiết, trên thực tế, tài liệu ghi chép thiên văn được công nhận là sớm nhất, hệ thống nhất, là từ sách sử của Trung Quốc cổ đại.

Hơn 9000 chữ trong “Thuyết văn giải tự” truy ngược về cội nguồn, dốc sức khôi phục nội hàm và bản chất đằng sau chữ Hán, khi chúng ta đứng từ mỗi góc độ để thu được thông từ từ trong đó, thì chúng ta có thể thu được những nhân tố căn bản của một phương diện nào đó một cách có hệ thống. Chữ Hán giống như “hóa thạch sống”, mang theo sự tìm tòi và ghi chép của người Trung Quốc cổ đại về vũ trụ và thiên thể, là nhịp cầu thân thuộc nhất mà lại xa lạ nhất để người đời sau hiểu về văn hóa Thần truyền Trung Hoa.

Lượng thông tin mà chữ Hán mang theo rất phong phú, cũng khiến thế giới phương Tây quan tâm chú ý. Triết gia nổi tiếng của Pháp Jacques Derrida (1930-2004) đã từng nói, “chữ Hán là văn tự duy nhất trên thế giới có khả năng tự túc, tự bản thân nó đã bao gồm thông tin hoàn chỉnh”. (Chương 3, sách “Luận văn tự học” của Jacques Derrida, Nhà xuất bản dịch thuật Thượng Hải 1999, Uông Đường Gia dịch). Trong cuốn “Khoa học kỹ thuật và văn minh Trung Hoa” của nhà khoa học nổi tiếng người Anh Joseph Needham đã viết rằng: “Nếu Thượng Đế từng dạy nhân loại một loại ngôn ngữ nào đó, thì loại ngôn ngữ đó nhất định sẽ phải giống chữ Hán”. (Thư của Gottfried Leibniz gửi La Croze, năm 1707).

(Còn tiếp)

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/8/15/480632.html

Đăng ngày 24-09-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 2) first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Cuộc thi Võ Cổ truyền Trung Hoa Quốc tế của Đài Truyền hình NTD hồi sinh tinh thần võ đạohttps://vn.minghui.org/news/271608-cuoc-thi-vo-co-truyen-trung-hoa-quoc-te-cua-dai-truyen-hinh-ntd-hoi-sinh-tinh-than-vo-dao.htmlTue, 24 Sep 2024 08:44:35 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=271608[MINH HUỆ 05-09-2024] Sau ba ngày tranh tài, Cuộc thi Võ Cổ truyền Trung Hoa Quốc tế lần thứ 8 do Đài Truyền hình NTD (NTDTV) tổ chức đã kết thúc vào ngày 2 tháng 9 năm 2024 tại New Jersey, Hoa Kỳ. […]

The post Cuộc thi Võ Cổ truyền Trung Hoa Quốc tế của Đài Truyền hình NTD hồi sinh tinh thần võ đạo first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của học viên Pháp Luân Đại Pháp tại New York

[MINH HUỆ 05-09-2024] Sau ba ngày tranh tài, Cuộc thi Võ Cổ truyền Trung Hoa Quốc tế lần thứ 8 do Đài Truyền hình NTD (NTDTV) tổ chức đã kết thúc vào ngày 2 tháng 9 năm 2024 tại New Jersey, Hoa Kỳ. Cuộc thi cho thấy tác động sâu sắc của võ thuật truyền thống đối với sức khỏe thể chất và sự phát triển cá nhân.

Từ ngày 30 tháng 8 đến ngày 2 tháng 9, 91 võ sỹ đã tụ họp tại Waldwick, New Jersey để tham gia cuộc thi. Vòng sơ khảo đã được tổ chức hồi tháng 6 tại Đức và Đài Loan. Lễ trao giải diễn ra vào ngày 2 tháng 9, với các võ sỹ nhận huy chương ở các hạng mục tay không và có binh khí. Ngoài hai giải vàng, còn có 11 giải bạc và 41 giải đồng. Các thí sinh cũng được trao giải khuyến khích, giải thưởng cho thí sinh mới giàu triển vọng, và giải thưởng đóng góp cho bảo tồn di sản văn hóa.

Cuộc thi độc đáo ở chỗ chỉ tập trung vào các môn võ thuật truyền thống Trung Hoa với sứ mệnh khôi phục võ đức, một quy tắc ứng xử bắt buộc đối với các võ sỹ võ cổ truyền. Đây cũng là một phần trong chuỗi sự kiện văn hóa do NTDTV tổ chức nhằm phục hưng nền văn hóa truyền thống.

b971ee4b08fc00bc73ba1937698dcd29.jpg

Lễ trao giải Cuộc thi Võ Cổ truyền Quốc tế lần thứ 8 của NTDTV vào ngày 2 tháng 9 (Ảnh: The Epoch Times)

Chủ tịch cuộc thi: “Chúng tôi đang cố gắng tạo ra một cuộc phục hưng”

Ông Lý Hữu Phủ, chủ tịch Cuộc thi Võ Cổ truyền Trung Hoa Quốc tế của NTDTV, cho biết: “Võ thuật truyền thống ngày nay đã hoàn toàn thất truyền và không còn ai truyền dạy chúng theo hình thức nguyên bản nữa”.

Những gì còn sót lại ngày nay chỉ là một số động tác hình thể, một số đường quyền cơ bản của một số môn phái, và có rất ít võ sư có thể dạy theo cách nguyên bản – truyền đạt thành phần tinh thần, tâm linh và nội hàm đằng sau mỗi động tác – chứ chưa nói đến các ‘bí kíp’ của những môn phái đó, những điều chưa bao giờ được viết ra.

Bản chất của võ cổ truyền là “võ đức”, ông Lý cho biết điều này cung cấp cho các võ sư một lộ trình để có thể hướng dẫn việc luyện võ lên những cảnh giới cao hơn, thậm chí một ngày nào đó vượt qua các hình thức ban đầu vốn đã thất truyền.

“Thực ra, chúng tôi không chỉ muốn phục hồi những môn võ cổ truyền này. Chúng tôi còn đang cố gắng tạo ra một cuộc phục hưng”, ông Lý bày tỏ.

Thí sinh: “Con đường đúng đắn”

a76730aacb0f997d0616a6293e51b202.jpg

Anh Lưu Đại Nhạn, người chiến thắng giải vàng ở hạng mục tay không nam biểu diễn ‘hình ý’ (The Epoch Times)

Đây là lần thứ năm võ sỹ Lưu Đại Nhạn đến từ Đài Loan tham gia cuộc thi và lần này anh đã giành được huy chương vàng. Trong các kỳ thi trước đây, anh cũng đã từng đoạt giải. “Mục tiêu của tôi là đạt đến trình độ của những bậc thầy đi vào huyền thoại đó, và tiếp đến là những tầm cao mới”, anh Lưu, đến từ Đài Loan và hiện là một giáo viên võ thuật, cho biết.

1238ba76d71204f1ec4fcdab1060f2b9.jpg

Anh Eike Opfermann, người đã giành giải vàng ở hạng mục binh khí nam với thanh kiếm Kỳ môn (Ảnh: The Epoch Times)

Võ sỹ đoạt giải vàng Eike Opfermann đến từ Đức cho biết: “Võ đức nghĩa là ngăn chặn cái ác và đề cao cái thiện… Đó cũng là không sợ hãi trước cái ác, không gian dối trước cái thiện và phải khiêm cung.”

d78ae043a6304c0ba5c8e48bcca45a38.jpg

Người chiến thắng giải bạc Trần Thiểu Hiên ở hạng mục binh khí nam (Ảnh: The Epoch Times)

Người chiến thắng giải bạc Trần Thiểu Hiên, đến từ Đài Loan, đã từng tham gia nhiều cuộc thi lớn nhỏ trên khắp Đài Loan và Trung Quốc. Trong số tất cả những cuộc thi này, NTDTV là đơn vị duy nhất kiên trì với sứ mệnh phục hưng truyền thống, anh cho biết.

“Đây là con đường đúng đắn,” anh Trần nói. “Và sử dụng một hình thức thi đấu để làm điều này, điều này có tác động đến các võ sỹ chúng tôi, và thay đổi hướng đi cho chúng tôi trên con đường là võ sỹ.”

Anh Trần cho biết đó là con đường đúng đắn vì võ thuật truyền thống chú trọng võ đức. Theo cách nhìn của một võ sỹ, mà trong thời cổ đại thường là một chiến binh, nhận thức rằng bạn có khả năng và sức mạnh để lấy đi một mạng sống cho thấy mạng sống con người mong manh như thế nào, từ đó dẫn đến quyết tâm bảo vệ mạng sống của mình, anh chia sẻ. Và khi bạn nhận ra rằng bạn có sức mạnh và khả năng tự bảo vệ mình, bạn cũng nhận ra rằng bạn không bao giờ có thể bị dồn vào chân tường nữa và do đó, không cần phải sợ hãi nữa, anh cho biết thêm.

269809d6fab5804c30401cbd3c151090.jpg

Anh Sergio Torres đến từ Bolivia, người giành giải bạc ở hạng mục tay không nam (Ảnh: The Epoch Times)

c5bd453b605919292018a94e62b7b452.jpg

Anh Armilali Pinzon đến từ Colombia, người chiến thắng giải đồng ở hạng mục thiếu niên tay không (Ảnh: The Epoch Times)

db8ab2c66ce6ec18e7e1515642a7b7fa.jpg

Võ sỹ Thi Dĩ Chân đến từ Đài Loan, người giành giải bạc ở hạng mục tay không nữ (Ảnh: The Epoch Times)

Khán giả: Chú trọng về đạo đức thật “quan trọng và sâu sắc”

Cô Liv Segura, một quản lý nhân sự đến từ Pennsylvania, người đã từng học võ thuật, đã xem cuộc thi hai ngày liên tiếp. Cô cho biết, “Đây là một cuộc thi rất ý nghĩa. Các thí sinh thực sự đã thể hiện được kỹ năng của mình. Họ cũng chú trọng võ đức, chú trọng đạo đức chứ không chỉ là đánh nhau, và đề cao tinh thần… Bầu không khí ở đây rất vui vẻ và hợp tác. Mọi người coi nhau như anh chị em và rất thiện chí.” Cô cũng cho biết sau khi xem cuộc thi, cô nghĩ mình nên học lại võ thuật. Cô hy vọng NTDTV sẽ tổ chức cuộc thi này hàng năm.

06494cbbb292204f6a2c4e678274eda4.jpg

Cô Liv Segura, một khán giả đến từ Pennsylvania (Ảnh: The Epoch Times)

Cô Michelina Palmer, một giáo viên trung học ở tiểu bang New York, cùng con trai đang học võ thuật đến xem trận chung kết.

a655de85ebc4bfd333084c3d30c3c8ce.jpg

Một người mẹ và con trai trong trận chung kết (Ảnh: The Epoch Times)

Cô cho biết, “Hai mẹ con tôi đã đọc một số thông tin về bối cảnh của cuộc thi của NTDTV trên mạng. Con trai tôi đọc được nội dung về võ đức. Tôi cho rằng điều này rất quan trọng và sâu sắc. Xã hội hiện nay đầy rẫy bạo lực và đánh nhau. Nhưng ở đây họ nói về việc trở thành người tốt, bảo vệ kẻ yếu và học võ thuật để ngăn chặn bạo lực. Đây là một cơ hội học tập rất tốt cho con trai tôi, để ngay từ nhỏ cháu đã biết đến những đạo đức, kỷ luật này, không sử dụng kỹ năng để làm tổn thương người khác, không bị dụ dỗ làm điều xấu, rằng võ thuật được sử dụng để làm điều tốt, để đối xử với mọi người một cách chân thành và để bảo vệ công lý. Điều đó thật tuyệt vời.”

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/9/5/481593.html

Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2024/9/6/219845.html

Đăng ngày 24-09-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post Cuộc thi Võ Cổ truyền Trung Hoa Quốc tế của Đài Truyền hình NTD hồi sinh tinh thần võ đạo first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 1)https://vn.minghui.org/news/271597-tu-thuyet-van-giai-tu-nhin-coi-nguon-cua-chu-han.htmlMon, 23 Sep 2024 10:56:47 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=271597[MINH HUỆ 10-08-2024] 1. Nguồn gốc của “Thuyết văn giải tự” Văn tự Trung Quốc có lịch sử lâu đời. Trong “Dịch kinh – Hệ từ”, “Lã thị xuân thu” và các điển tịch khác đều có ghi chép rằng, Thương Hiệt, sử quan của Hoàng Đế đã sáng tạo […]

The post Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 1) first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của Mịch Chân

[MINH HUỆ 10-08-2024]

1. Nguồn gốc của “Thuyết văn giải tự”

Văn tự Trung Quốc có lịch sử lâu đời. Trong “Dịch kinh – Hệ từ”, “Lã thị xuân thu” và các điển tịch khác đều có ghi chép rằng, Thương Hiệt, sử quan của Hoàng Đế đã sáng tạo ra chữ viết, khai sáng văn tự Hoa Hạ chính thống. Từ các chữ như Giáp cốt văn, Kim văn cho đến Tiểu triện, là thuộc về thể hệ văn tự cổ. Đến thời Hán xuất hiện Lệ thư, là thuộc về thể hệ văn tự ngày nay. Do văn tự ngày nay có sự thay đổi khá lớn so với văn tự cổ đại, nên mọi người khó liễu giải được nội hàm vốn có của cổ văn, và dần dần sinh ra sự biến đổi. Đến thời kỳ Đông Hán, Hứa Thận trước tác “Thuyết văn giải tự”, cố gắng khôi phục cội nguồn của chữ Hán, và ngăn chặn “hành vi biến đổi loạn” chữ Hán của mọi người.

Hứa Thân, tên tự là Thúc Trọng, là người làng Vạn Tuế, huyện Triệu Lăng, Nhữ Nam (tức làng Hứa Trang, huyện Yển Thành, tỉnh Hà Nam ngày nay). Ông từng đảm nhận chức quan Tế tửu của Tàng thư xứ của hoàng cung Đông Hán, hiệu đính các thư tịch cổ.

Trong “Thuyết văn giải tự”, Hứa Thận đã thuật lại khởi nguồn của chữ Hán: “Thời cổ đại, Bào Hi thị làm vua thiên hạ, ngửa mặt quan sát thiên tượng trên trời, cúi nhìn những hình tượng ở dưới đất. Ông thấy hoa văn của chim thú thích nghi với nơi chúng ở, gần thì lấy bản thân mình, xa thì lấy các vật để đối chiếu, thế rồi bắt đầu tạo ra Bát quái, dùng để tham chiếu… Sử quan của Hoàng Đế là Thương Hiệt bắt đầu tạo ra chữ viết, dựa theo loài mà phỏng theo hình tượng, do đó gọi là văn. Sau này kết hợp hình – thanh, gọi là tự”.

Bào Hi thị tức là Phục Hi thị. Phục Hi thị ngửa mặt quan sát thiên tượng, cúi nhìn địa lý, căn cứ theo đạo lý vốn có của sự vật đã sáng tạo ra Bát quái, có thể quan trắc tượng của thiên địa vạn vật v.v. Đến thời kỳ Hoàng Đế, sử quan Thương Hiệt dựa vào hình tượng của các loài, đã sáng tạo ra văn tự tượng hình, sau này diễn biến thành văn tự có cả hình và thanh.

Nhưng đến khi xuất hiện Lệ thư vào thời Hán, thì so sánh văn tự với Triện thư thời kỳ trước rất thuận tiện và dễ nhận biết, và vẫn được áp dụng rộng rãi cho đến ngày nay. Nhưng do mất đi diện mạo gốc “tượng hình dựa theo loài” của văn tự cổ đại, nên đã bắt đầu nảy sinh sự bóp méo và hiểu sai đối với văn tự. Trong “Thuyết văn giải tự”, Hứa Thận đã chỉ ra rằng, để thuận tiện cho việc ghi nhớ, mọi người đã đặt ra các câu vần vè như: “Mã đầu nhân vi trưởng, nhân trì thập vi đấu, trùng giả khuất trung dã”, dùng cái sai lan truyền cái sai, gây hại rất rộng.

Để ngược dòng về cội nguồn chữ Hán, để thế nhân hiểu được ý nghĩa chân thực ẩn tàng trong chữ Hán, Hứa Thận đã dùng thời gian 22 năm, thu thập lượng lớn các văn tự thượng cổ, chữ đại triện, chữ tiểu triện… Và căn cứ vào các tư liệu mà các bậc Thánh hiền cổ đại lưu lại, đã khôi phục lại nguồn gốc của hơn 9.000 chữ Hán.

Nếu không có “Thuyết văn giải tự” làm ngay chính gốc trong sạch nguồn, thì mọi người sẽ khó mà nhận ra được hàm nghĩa của các văn tự cổ đại như đồ đồng thời Thương Chu, cổ văn thời Tam Quốc và Giáp cốt văn khai quật được ở thời sau này. Học giả chú giải cổ thời Thanh là Chu Tuấn Thanh đã viết trong “Thuyết văn thông huấn định thanh – Lâm bộ” của ông rằng: “Người ta thường nói rằng, sách ‘Thuyết văn giải tự’ có công lao không kém Hạ Vũ trị thủy” Cho đến ngày nay, “Thuyết văn giải tự” vẫn là sách công cụ gối đầu giường mà mọi người vẫn thường sử dụng. Khi người ta muốn tìm về hàm nghĩa ban đầu của một chữ Hán, thì đầu tiên là nghĩ đến “Thuyết văn giải tự”.

2. Hình tượng của chữ Hán: Ngửa mặt quan sát thiên tượng trên trời, cúi nhìn những hình tượng ở dưới đất

Chữ Hán là văn tự tượng hình, mà chữ “tượng” này không chỉ là sự giống nhau ở hình tượng bề ngoài, mà còn hàm chứa hình tượng bản lai của sự vật, tức là phản ánh quy luật bản chất của sự vật. Trong “Thuyết văn giải tự”, Hứa Thận viết rằng: “Ngửa mặt quan sát thiên tượng trên trời, cúi nhìn những hình tượng ở dưới đất. Ông thấy hoa văn của chim thú thích nghi với nơi chúng ở, gần thì lấy bản thân mình, xa thì lấy các vật để đối chiếu”, sau đó “tượng hình dựa theo loại, cho nên gọi là văn”, rồi lại “hình – thanh bổ trợ, tức gọi là tự”.

Điều đó cũng có nghĩa là, chữ Hán đã tiết lộ quy luật nội tại tạo vật của trời đất. Trong “Hoài Nam Tử” có ghi chép: Thương Hiệt sáng tạo ra chữ viết, trên trời rơi xuống thóc gạo, nửa đêm quỷ gào khóc.

Nói theo cách thông tục là, sự xuất hiện của chữ Hán là một đại sự “kinh thiên địa, khốc quỷ thần”. Nhà bình luận thư họa nổi tiếng đời Đường là Trương Ngạn Viễn đã giải thích trong “Lịch đại danh họa ký” rằng: việc sáng tạo ra chữ Hán khiến Tạo hóa không thể che giấu được bí mật trong đó, do đó đã giáng thóc gạo xuống, khiến yêu ma quỷ quái không thể ẩn hình, do đó ban đêm quỷ thần gào khóc.

Tại sao Thương Hiệt có thể nhìn ra sự kỳ diệu của sự tạo hóa của thiên địa vạn vật? Trong lịch sử có một thuyết nói rằng, Thương Hiệt có “con ngươi kép, bốn mắt”, ông ngẩng đầu có thể nhìn thấy quy luật vận hành của mặt trời, mặt trăng, các vì sao, ông cúi đầu có thể quan sát được sự huyền diệu của vạn vật. Thương Hiệt phân ra thành các loài, ghi chép thành văn tự. Đây chính là chữ tượng hình sớm nhất.

Do lịch sửa đã quá lâu rồi, nên việc ông có “con ngươi kép, 4 mắt” thì không có tài liệu lịch sử xác thực nào để làm căn cứ, nhưng nhìn từ góc độ của giới tu luyện, nếu Thương Hiệt có thần thông “khai thiên mục”, và có tầng thứ khá cao, thì ông đã thông qua thiên mục là có thể quan sát được chân tướng của không gian khác.

Hứa Thận quy việc Thương Hiệt sáng tạo ra chữ viết là “tượng hình dựa theo loài”, chính là nhìn thấy lý của vũ trụ ở tầng thứ cao, kết hợp với sự vật mà mọi người bình thường nhìn thấy, cảm nhận được để biểu đạt ra, phù hợp với thói quen tư duy của người thường, như thế mới tạo điều kiện cho mọi người dễ nhớ và truyền bá.

Từ chữ tượng hình mà Thương Hiệt sáng tạo ra, sau này diễn biến ra càng ngày càng nhiều chữ, là chiểu theo phương pháp “Lục thư”. Trong “Chu lễ” có đề cập đến “Lục thư”, nhưng không giải thích. Hàm nghĩa cụ thể của Lục thư lần đầu tiên được Hứa Thận giải thích trong “Thuyết văn giải tự”, đó là: tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú, và giải tá. Cũng có nghĩa là, đối với việc hình thành và công dụng của chữ Hán, thì “Thuyết văn giải tự” là một trước tác truy về cội nguồn, kế thừa của đời trước, mở ra cho đời sau.

(Còn tiếp)

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/8/10/480631.html

Đăng ngày 23-09-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post Từ “Thuyết văn giải tự” nhìn cội nguồn của chữ Hán (Phần 1) first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
“Phần tử trí thức”https://vn.minghui.org/news/271570-phan-tu-tri-thuc.htmlSun, 22 Sep 2024 15:16:54 +0000https://vn.minghui.org/news/?p=271570[MINH HUỆ 06-08-2024] Phần tử trí thức là gì? Ai là trí thức? Chỉ nói riêng từ này, hiển nhiên là không có nguồn gốc từ tiếng Trung, mà là từ ngôn ngữ phương Tây. Từ này trong tiếng Anh là intellectual, tiếng Pháp là […]

The post “Phần tử trí thức” first appeared on Minh Huệ Net.

]]>
Bài viết của Ban biên tập “Thiên địa thương sinh”

[MINH HUỆ 06-08-2024] Phần tử trí thức là gì? Ai là trí thức? Chỉ nói riêng từ này, hiển nhiên là không có nguồn gốc từ tiếng Trung, mà là từ ngôn ngữ phương Tây. Từ này trong tiếng Anh là intellectual, tiếng Pháp là intellectuel, đều trực tiếp từ nguồn gốc tiếng La-tin intellectualis.

Hàm nghĩa của từ vựng phương Tây này đều tập trung ở “lý giải” và “năng lực quan sát”, vì vậy người phù hợp với hàm nghĩa của từ này nhất ban đầu là các giáo sĩ, nhà tiên tri và các triết gia. Đến cuối thế kỷ 19, từ này bắt đầu được sử dụng chủ yếu cho một loại người khác: Người có suy nghĩ, nghiên cứu, suy xét có tính phê phán đối với hiện thực xã hội, và đưa ra phương án giải quyết đối với vấn đề quy phạm xã hội.

Bất kể là quá khứ hay hiện tại, phẩm chất đặc trưng của loại người này là dùng lý tính (chứ không phải cảm tính) để nhận thức và xem xét sự vật. Họ theo đuổi ý nghĩa sinh mệnh, quan tâm đến giá trị cuối cùng của nhân sinh, học tập và tôn trọng mối quan hệ giữa sinh mệnh và tự nhiên cũng như vũ trụ. Họ dựa vào sự tìm tòi và giải đáp những vấn đề này, đưa đại chúng đến tầm nhìn rộng lớn hơn, vì vậy họ cũng được ví là “cặp mắt và người phát ngôn của xã hội và thời đại”. Ở phương Tây có câu nói phân biệt họ với những người có tri thức, có kỹ năng: “Khi một nhà khoa học tiến hành nghiên cứu thí nghiệm hạt nhân trong phòng thí nghiệm, thì ông ấy không phải là một trí thức, nhưng khi ông ấy ký tên trên thư thỉnh nguyện phản đối chiến tranh hạt nhân thì ông ấy mới là trí thức”. Hiển nhiên, trong xã hội phương Tây, có mối quan tâm công cộng và ý thức phê bình, và có tinh thần trách nhiệm xã hội mạnh mẽ, thì mới là một đặc trưng lớn của trí thức.

Nhưng ở Trung Quốc thì rất khác. Ở Trung Quốc, công nhân và nông dân thì không gọi là “phần tử”, “địa chủ, phú hào, phản động, kẻ xấu, kẻ cánh hữu”, “phản cách mạnh” thì mới bị gọi là “phần tử”. Nhưng những người nắm giữ rất nhiều tri thức, đọc sách càng nhiều, thì lại bị gọi là “phần tử trí thức”. Trước đây, động tí là Trung Cộng gộp chung “phần tử trí thức” và các từ vựng có ý nghĩa phụ diện như “tư bản”, “bất đồng chính kiến”, “cải tạo” lại với nhau. Hiện nay lại gọi những người có bằng cấp, có tri thức chuyên môn, có thu nhập bậc trung gọi là “phần tử trí thức”. Kỳ thực, có lẽ những người đọc sách ở Trung Quốc xưa vừa thông thạo lục nghệ lại vừa có thể đỗ khoa cử, các thân sĩ hương thân tích tụ văn hóa sâu dày nhiều đời, thì mới là “trí thức” (intellectual) mà phương Tây nói đến.

Nếu người đọc sách nhiều, dám tư duy biện luận, có tinh thần trách nhiệm, người quan tâm đến xã hội, quan tâm đến ý nghĩa nhân sinh, và giá trị cuối cùng của nhân sinh, chính là “phần tử” trong tiếng Trung hiện đại. Những “phần tử” này mới là thiểu số, là những người trong nguy nan vẫn nguyện ý bước ra trợ giúp đại chúng bước tới bình an và tươi sáng. Có lẽ thay vì dịch “intellectual” là “phần tử trí thức”, thì dịch là “trí giả” (người có trí tuệ) sẽ hay hơn. Như thế nhìn chữ thấy nghĩa, không bị lẫn với những người như các nhà khoa học, chuyên gia, giai cấp trung lưu, người có kỹ năng chuyên biệt.

Trí giả không chỉ có tri thức, mà còn có tấm lòng thương xót chúng sinh, không hạn cuộc bản thân vào danh lợi thế gian, hoặc hưởng lạc thế tục, không phải chỉ quan tâm bản thân mình tốt đẹp. Đối với họ mà nói, tư duy độc lập có tầm cao, và khả năng quan sát và biểu đạt không e sợ, chính là trạng thái bình thường của đời sống tinh thần và trách nhiệm xã hội. Đương nhiên, nếu có thể tu luyện và đạt đến khai công khai ngộ, thì đó là đã trở thành bậc giác giả rồi, là sinh mệnh của cảnh giới cao hơn nữa.

Hy vọng mọi người trong khi hóng mát leo lên nơi cao ngắm cảnh, có thêm một chủ đề thú vị và có ý nghĩa.

(Lời nói đầu của “Thiên địa thương sinh” kỳ thứ 301)

Bản quyền © 2024 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.


Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2024/8/6/480516.html

Đăng ngày 22-09-2024; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share

The post “Phần tử trí thức” first appeared on Minh Huệ Net.

]]>