30 năm hạnh phúc, theo Sư phụ khai mở kỷ nguyên mới
Bài viết của đệ tử Đại Pháp tại Bắc Kinh
[MINH HUỆ 31-07-2026] Tôi bắt đầu tu luyện Đại Pháp năm 1996, đến nay vừa tròn 30 năm. Nhờ sự bảo hộ từ bi của Sư phụ, tôi luôn được đắm mình trong Pháp quang, thụ ích vô vàn điều tốt đẹp và ngày nào cũng tràn đầy hạnh phúc. Hôm nay, tôi viết ra một vài ký ức từ 30 năm trước để bày tỏ lòng biết ơn Sư phụ, chia sẻ với mọi người về uy lực và vẻ đẹp của Đại Pháp. Tôi hy vọng sẽ có thêm nhiều người hiểu về Đại Pháp, bước vào tu luyện, nâng cao đạo đức và đạt tới cảnh giới sinh mệnh cao hơn.
Đầu năm 1996: Vui mừng đắc Pháp, tích cực tham gia học Pháp tập thể, luyện công và hồng Pháp
Khoảng năm 1994, huyện tôi lần lượt có hơn mười người tham gia các lớp giảng Pháp của Sư phụ. Có người tham gia lớp ở Thiên Tân và Khẩn Lợi, tỉnh Sơn Đông; đông nhất là những người tham gia lớp giảng Pháp tại Thành phố Tế Nam. Phó hiệu trưởng trường chúng tôi là một trong số đó. Năm 1995, một vài học viên nhiệt tình từng tham gia lớp giảng Pháp của Sư phụ đã tổ chức điểm luyện công đầu tiên ở địa phương. Nghe nói ban đầu điểm luyện công ở gần Bắc Sơn, sau đó chuyển đến Công viên Phủ Học ngày nay, trong một khu rừng nhỏ trước tòa nhà Hội Khoa học và Công nghệ, đối diện nhà máy giày cũ.
Tôi may mắn đắc Pháp vào ngày đầu năm mới 1996, cả thân lẫn tâm đều được thụ ích và tôi bắt đầu tham gia nhóm học Pháp gần nhà. Chẳng bao lâu sau, chúng tôi cũng lập một điểm học Pháp ngay tại nhà tôi. Mỗi lần, mẹ tôi đều dọn phòng sạch sẽ, trải những tấm đệm ngồi do chính tay bà may để đón mọi người. Bà còn mua đầu máy video và băng ghi hình Sư phụ giảng Pháp để mọi người tiện xem. Sáng nào tôi cũng cùng mẹ và vợ đến điểm luyện công. Khi ấy, mỗi sáng và tối đều có khoảng hai, ba mươi người cùng luyện công tại đó. Tối thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu hằng tuần, chúng tôi học Pháp nhóm tại nhà tôi. Đêm giao thừa năm 1996, hơn mười người chúng tôi vẫn luyện công tại điểm luyện công. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc.
Không lâu sau khi đắc Pháp, cả gia đình tôi còn may mắn tham gia lớp xem băng hình Sư phụ giảng Pháp quy mô lớn đầu tiên tại địa phương. Buổi chiếu được tổ chức trong hội trường của Trung tâm Hoạt động Cán bộ Hưu trí. Tôi nhớ là có mấy chục người tham gia. Dù chỉ xem băng hình, đây là lớp đầu tiên có quy mô lớn và được tổ chức bài bản tại địa phương, khiến chúng tôi cảm thấy như thể Sư phụ đích thân đến giảng Pháp. Nhiều học viên tham gia lớp ấy về sau đã thực sự trở thành những người chủ chốt trong việc hồng truyền Đại Pháp tại huyện tôi. Đến hôm nay nhớ lại, tôi vẫn thấy đó là một dịp vô cùng thù thắng và ý nghĩa!
Sáng Chủ nhật hằng tuần, chúng tôi đến cổng phía Tây của công viên trung tâm để hồng Pháp, mỗi lần khoảng 20 người. Trước tiên, bốn phụ đạo viên treo băng rôn “Pháp Luân Đại Pháp hướng dẫn luyện công miễn phí” và bảng giới thiệu Pháp Luân Công. Sau đó, họ bày một chồng sách quý “Chuyển Pháp Luân” để những người hữu duyên đi ngang qua tiện tìm đọc, rồi chúng tôi cùng luyện công. Có một buổi sáng, tuyết rơi rất dày, trời đặc biệt lạnh. Chỉ có vợ chồng tôi đến, lại không có đài phát nhạc, nên hai chúng tôi tự luyện công. Luyện xong, chúng tôi thấy ba người hữu duyên đứng ở cổng công viên. Họ đến để thỉnh cuốn sách quý “Chuyển Pháp Luân”. Thấy họ đội tuyết lớn đến vì Pháp, tôi vô cùng cảm động, nói vài lời khích lệ và hẹn họ tuần tới quay lại. Tôi rất tự hào vì chưa từng bỏ lỡ một buổi hồng Pháp Chủ nhật nào, cho đến khi cuộc bức hại bắt đầu vào ngày 20 tháng 7 năm 1999. Hôm ấy, dù chỉ có hai vợ chồng tôi luyện công và hồng Pháp, Sư phụ từ bi vẫn khích lệ chúng tôi, cho chúng tôi thấy sự thần kỳ và tốt đẹp của Đại Pháp. Con xin cảm tạ Sư phụ!
Sau đó, người phụ trách trạm phụ đạo muốn đến các xã, thị trấn để liên hệ với học viên ở nông thôn. Sau buổi hồng Pháp và luyện công Chủ nhật, bà thông báo địa điểm, thời gian dự kiến để ai muốn đi thì đăng ký. Lần nào tôi cũng tham gia. Dọc đường đi, mấy người chúng tôi vừa đạp xe vừa chia sẻ với nhau, ai cũng rất vui. Chuyến hồng Pháp quy mô lớn đầu tiên ra ngoài thị trấn là đến thị trấn nhỏ gần nhà máy thép. Hơn mười người chúng tôi luyện công cùng các đồng tu địa phương. Ở đó từng xuất hiện một con ma phụ thể, sau đó đã được Sư phụ thanh lý nhưng nhiều người tu luyện chưa lâu nên vẫn rất sợ. Khi chúng tôi đến, các đồng tu đón tiếp rất thân tình, song trên nét mặt họ vẫn lộ vẻ lo lắng. Hôm ấy trường luyện công và hồng Pháp đặc biệt tốt. Chúng tôi đắm mình trong sự từ bi hồng đại của Đại Pháp, cảm thấy không gian khác đã được tịnh hóa sạch sẽ. Khi hoạt động kết thúc, nỗi sợ của các học viên đều tan biến, chỉ còn lại lòng cảm ân và niềm vui của người tu luyện.
Sau đó, chúng tôi lần lượt đến nhiều xã, thị trấn. Khi ấy, số học viên ở mỗi nơi còn tương đối ít. Dù mới chỉ thiết lập được những mối liên hệ ban đầu, việc này đã đặt nền tảng rất tốt cho sự hồng truyền Đại Pháp tại địa phương về sau.
Mùa xuân năm 1996: Điểm luyện công ngày càng đông, tôi hạnh phúc khi trở thành người nòng cốt
Mùa xuân năm 1996, số người tu luyện tăng nhanh, nên chúng tôi chuyển sang luyện công tập thể ở cổng phía Đông của công viên trung tâm. Đây là cổng chính, rất rộng rãi, người qua lại đông đúc và có nhiều người luyện các môn khí công khác. Điểm luyện công cũ nằm trong khu rừng nhỏ, rất yên tĩnh và thích hợp để luyện công, nhưng người bên ngoài khó nhìn thấy. Điểm mới tuy khá ồn ào, nhưng lại có tác dụng rất tốt trong việc hồng truyền Đại Pháp. Rất nhiều người đã từ đây bước vào tu luyện Đại Pháp và tìm được hạnh phúc chân chính.
Nhóm học Pháp đầu tiên tôi tham gia có nữ nhân viên cơ quan quản lý nhà ở, công nhân trạm lương thực, nông dân địa phương và nhiều người khác. Mọi người đều học Pháp chưa lâu, việc đọc sách còn thiếu nghiêm túc. Vì vậy, mỗi lần tham gia học Pháp tập thể, tôi đều ngồi ngay ngắn, hai tay nâng cuốn “Chuyển Pháp Luân”, cố gắng đọc rõ ràng, vang tiếng. Thấy tôi học Pháp chuẩn chỉnh, mọi người cũng đọc chăm chú hơn, môi trường học Pháp trở nên thuần tịnh hơn. Phụ đạo viên nhận thấy sự thay đổi ấy rất vui và tán thành cách làm của tôi. Tôi cũng cố gắng chia sẻ những điều mình lĩnh hội khi học Pháp để mọi người cùng đề cao. Nhóm học Pháp ngày càng tốt hơn.
Buổi hồng Pháp Chủ nhật cũng được chuyển từ cổng phía Tây nhỏ hơn sang cổng phía Đông. Cuối tuần ở đây rất đông người, lượng người đắc Pháp cũng ngày càng nhiều. Khi ấy máy tính chưa phổ biến. Những kinh văn mới của Sư phụ do tổng trạm ở Bắc Kinh gửi đến đều phải mang ra cửa hàng sao chụp. Mỗi khi có kinh văn mới, để mọi người được nghe sớm, phụ đạo viên sẽ đọc trước cho cả nhóm một lượt. Nhưng vì phụ đạo viên cũng chưa quen với bản mới, đọc một lần nhiều người nghe không rõ, nên một phụ đạo viên nhóm đề nghị tôi đọc. Tôi liền đứng trên một mô đá, dụng tâm đọc Pháp cho mọi người. Tôi đọc to, rõ để các đồng tu nghe được từng câu, từng chữ và hiểu rõ hơn nội hàm kinh văn mới của Sư phụ. Những bài kinh văn như “Nghiệp bệnh”, “Người tu cần tránh”, “Viên dung” và “Vô lậu” của Sư phụ đều do tôi đọc cho mọi người nghe khi ấy. Được đọc kinh văn của Sư phụ cho mọi người ngay khi vừa nhận, tôi tự nhiên cũng được Pháp lực hồng đại của Sư phụ gia trì và là người thụ ích nhiều nhất. Việc ấy giúp tôi thêm chính niệm, hiểu thấu hơn nội hàm kinh văn và đặt nền tảng rất tốt cho con đường tu luyện trong Chính Pháp sau này.
Về sau, tôi tham gia nhóm học Pháp của các phụ đạo viên với tư cách là một người chủ chốt. Mỗi buổi có khoảng hơn mười người. Phụ đạo viên nói về tình hình chung, rồi mọi người trao đổi về những vấn đề cụ thể gặp phải. Sau hai lần tham gia, tôi nghĩ Đại Pháp tốt đẹp như vậy nên được nhiều người biết đến hơn. Chỉ có một điểm luyện công thì phạm vi tiếp cận quá nhỏ, ít người có cơ hội biết đến. Tôi bèn đề nghị với các phụ đạo viên: “Nếu công việc chỉ là mang đài đến rồi bật, tắt, thì một học viên bình thường nhiệt tình cũng làm được. Là phụ đạo viên, chúng ta nên nghĩ đến tất cả người dân trong huyện, để nhiều người hơn có cơ hội đắc Pháp.” Phụ đạo viên phụ trách rất cởi mở, hỏi tôi: “Theo anh thì nên làm thế nào?” Tôi đáp: “Hãy chia điểm luyện công lớn của chúng ta thành bốn điểm ở phía Đông, Nam, Tây, Bắc. Như vậy, nhiều học viên có thể luyện công gần nhà, tiết kiệm thời gian. Đại Pháp cũng được hồng truyền tốt hơn và nhiều người sẽ thuận tiện đắc Pháp hơn. Đồng thời, bốn điểm luyện công ở thị trấn có thể lần lượt hỗ trợ các học viên nông thôn ở bốn hướng tổ chức điểm luyện công tại thôn, xã của mình.”
Các phụ đạo viên thấy đề nghị của tôi rất hay và quyết định thành lập ngay ba điểm luyện công mới. Người phụ trách ở lại điểm luyện công lớn tại cổng phía Đông công viên, hai phụ đạo viên khác phụ trách khu phía Đông và phía Bắc; còn tôi cùng bà L trong nhóm thành lập điểm luyện công phía Tây.
Mùa hè thu năm 1996: Thành lập thêm nhiều điểm luyện công, may mắn được làm phụ đạo viên tình nguyện
Chúng tôi và các phụ đạo viên lập tức bắt tay vào việc thành lập các điểm luyện công mới. Trước tiên, tôi và bà L đưa mọi người đến luyện công trước ngân hàng công thương trên con đường lớn phía Nam. Một tuần sau, chúng tôi chuyển đến trước cửa hàng bách hóa, nơi có không gian rộng hơn. Vì đây là trung tâm huyện nên việc hồng Pháp đặc biệt hiệu quả, người đến ngày càng đông. Rạng sáng ngày 22 tháng 7 năm 1999, dưới sự giám sát của cảnh sát, tôi tham gia buổi luyện công tập thể cuối cùng tại đây. Sau đó, tôi thoát khỏi sự giám sát và kiên quyết đến Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh để duy hộ Đại Pháp. Tôi bước vào con đường tu luyện trong Chính Pháp đầy khốc liệt nhưng cũng tốt đẹp hơn, lên một sân khấu rộng lớn hơn để chứng thực Đại Pháp và cứu độ chúng sinh trong khi phản bức hại. Điều rất thần kỳ là sau khi một điểm luyện công lớn được chia thành bốn, điểm cũ trong công viên chẳng những không vắng đi mà chẳng bao lâu còn đông hơn trước.
Điểm luyện công trước cửa hàng bách hóa vừa thành lập được vài ngày, tôi nghe nói các đồng tu ở Tây Quan cũng muốn có một điểm luyện công gần nhà, nên chúng tôi lập tức đến đó. Buổi luyện công đầu tiên diễn ra tại Công viên Tam Giác Địa, chỉ có ba người chúng tôi. Muỗi rất nhiều, ai cũng bị đốt nổi những nốt lớn. Sau đó, chúng tôi chọn khu vực trước một nhà hàng ở phía Tây để thành lập điểm luyện công Tây Quan. Bà L ở lại phụ trách điểm trước cửa hàng bách hóa, còn tôi đi mở thêm các điểm luyện công và nhóm học Pháp mới.
Nhóm học Pháp đầu tiên tôi lập là tại nhà một công nhân trẻ. Vì vợ anh ấy không tu luyện, nhóm chuyển sang nhà một cặp vợ chồng ngoài 80 tuổi. Khi ấy, nhóm rất ít người, ban đầu chỉ có hai, ba người, rồi tăng lên bốn, năm người, nhưng tôi không bỏ cuộc. Tôi có kiên định một niệm: Mình sẵn lòng đến những nhóm ở nơi xa xôi nhất, gặp nhiều khó khăn nhất, để giúp họ trở thành nhóm đề cao nhanh nhất, tốt đẹp nhất và chứng thực uy lực cùng vẻ đẹp của Đại Pháp.
Suốt mùa hè ấy, số người đến tham gia ngày càng đông. Nhóm học Pháp chuyển đến nhà một cặp vợ chồng thuộc một gia đình có nhiều người tu luyện: mẹ và em gái của họ cũng tu luyện, do vậy môi trường học Pháp rất tốt. Nhà họ có phòng rộng, sân lớn. Khi thời tiết đẹp, chúng tôi học Pháp ngoài sân, có hôm đông đến mức kín cả sân. Tiếng nói cười rộn rã của những ngày ấy là một ký ức hạnh phúc mà tôi sẽ không bao giờ quên. Đêm giao thừa năm 1997, giữa tiếng pháo mừng vang dội, chúng tôi lặng lẽ luyện công, trong lòng ngập tràn niềm hân hoan.
Sau một buổi hồng Pháp Chủ nhật, tôi gặp một cặp vợ chồng đồng tu ở phía Đông thị trấn. Họ rất muốn tổ chức học Pháp tập thể gần nhà. Sự nhiệt tình của họ khiến tôi cảm động, nên ngay hôm ấy tôi đạp xe cùng họ đến một ngôi làng gần nhà họ. Hai người gặp ba, bốn học viên ở đó và bàn việc lập nhóm học Pháp trong một căn phòng nhỏ cạnh sân phơi của làng. Nhóm học Pháp đầu tiên ở phía Đông thị trấn đã được thành lập như vậy. Tôi còn có một người bạn học sống trong ngôi trường tiểu học bỏ không ở phía Tây thị trấn. Tôi cùng vợ chồng anh ấy thành lập một điểm luyện công, từng có tám, chín người đến tham gia. Khi ấy, hầu như tuần nào tôi cũng dành một ngày đến phía Đông và phía Tây thị trấn để học Pháp, luyện công cùng họ.
Sau đó, một số đồng tu ở điểm luyện công Tây Quan lập thêm một điểm tại góc thành, từ một điểm phát triển thành hai. Một số học viên ở hai điểm Bắc Hoàn và Cổ Lâu cũng tách ra thành lập điểm luyện công Tây Hoàn. Các học viên địa phương lần lượt lập thêm nhiều điểm ở cổng phía Tây công viên, Thủy Quan, Đông Quan và Thành Nam. Nhờ những điểm này, các đồng tu có thể luyện công gần nhà, đồng thời nhiều người hơn có cơ hội tiếp xúc với Đại Pháp. Về sau, các học viên chủ chốt trong huyện cũng đến nhà tôi học Pháp trong một thời gian. Số người đông đến mức ngồi kín phòng, tôi và những người đến muộn chỉ có thể đứng nghe ngoài cửa.
Mùa hè năm ấy, chúng tôi còn tổ chức buổi xem băng ghi hình Sư phụ giảng Pháp quy mô lớn lần thứ hai. Lần này ở ngoài trời, trên khu đất trống dự kiến xây dựng trạm điện thuộc Thành Nam. Đây là lần đầu tôi tham gia công tác tổ chức một hoạt động Đại Pháp. Mỗi ngày, tôi giúp mở, đóng cổng và trao đổi trước với các bảo vệ trông coi khu đất. Các đồng tu tham gia đều cảm thấy mình thu hoạch được rất nhiều. Một học viên đã khai mở thiên mục nói rằng ở phía trên có nhiều thiên thần, thiên binh, thiên tướng đang cùng chúng tôi trang nghiêm nghe Sư phụ giảng Pháp. Sau đó, khu Bắc Hoàn và Nam Hoàn còn nhiều lần tổ chức xem băng ghi hình cho học viên từng khu vực. Nhưng đây là lần cuối trạm phụ đạo đứng ra tổ chức cho toàn thể học viên xem băng ghi hình Sư phụ giảng Pháp. Nghĩ lại, tôi thấy dịp ấy cũng vô cùng trân quý!
Chủ Nhật hằng tuần, tất cả học viên chúng tôi đều đến công viên để hồng Pháp tập thể. Tôi cùng phụ đạo viên lớn tuổi là bà Triệu phụ trách dạy các động tác luyện công. Tuần nào cũng có nhiều người mới đến học, cuối cùng số người tham gia tăng lên đến mấy trăm, tạo nên một cảnh tượng vô cùng thù thắng.
Mùa đông năm 1996: Kiên trì học Pháp tập thể, kiên định bảo vệ Đại Pháp
Một buổi trưa tháng 12 năm 1996, hai đồng tu đến nhà tôi có việc. Làng của họ là một trong những làng có đông người luyện công nhất địa phương khi ấy. Mùa hè trước đó, chúng tôi đã đến giúp họ chỉnh lại động tác luyện công. Tôi hỏi thăm tình hình tu luyện trong làng. Thấy tôi quan tâm, họ mời tôi đến gặp các đồng tu. Chiều hôm ấy, chúng tôi đạp xe đến làng. Biết trong làng có năm nhóm, tôi đến thăm cả năm và nhận thấy các học viên đều rất nhiệt tình luyện công, nhưng chưa coi trọng việc học Pháp. Ai cũng tự học, chưa có nhóm học Pháp tập thể.
Tôi lập tức đề nghị mọi người cùng học Pháp tối hôm ấy và nhờ hai đồng tu đi triệu tập mọi người. Người dân nông thôn rất chân chất. Đúng giờ hẹn, hai, ba mươi người vui vẻ đến, đứng kín cả căn phòng. Tôi nhờ đồng tu tìm cuốn sách mới của Sư phụ, “Pháp Luân Đại Pháp Nghĩa Giải”, để cùng học phần Sư phụ giảng về tầm quan trọng của việc học Pháp tập thể. Học xong, chúng tôi giao lưu với nhau. Mọi người đều hiểu rằng nên thành lập các nhóm học Pháp tập thể. Không khí hôm ấy thật ấm áp, tốt đẹp. Tâm của tất cả đệ tử Đại Pháp đều đặc biệt thuần tịnh, nhờ Sư phụ gia trì, chúng tôi có cảm giác như đang ở chốn tiên cảnh. Từ đó, bên cạnh việc luyện công tập thể hằng ngày, mọi người chú trọng hơn đến học Pháp tập thể. Kể từ đó đến nay, bất kể cuộc bức hại và can nhiễu ra sao, các đệ tử Đại Pháp trong làng vẫn luôn kiên trì cùng nhau học Pháp, mọi người hình thành chỉnh thể, cùng nhau đề cao vững chắc. Đến nay, các nhóm vẫn rất ổn định.
Đó là một số việc tôi đích thân trải nghiệm vào năm 1996, 30 năm trước. Sư phụ từ bi đã giúp tôi nhanh chóng từ một học viên mới trở thành một đệ tử Đại Pháp chân chính, một phụ đạo viên sẵn lòng phó xuất vì mọi người trên tinh thần tự nguyện. Đó là vinh dự vô cùng lớn đối với tôi. Chứng kiến cả huyện từ một điểm luyện công nhanh chóng phát triển thành nhiều điểm, tôi biết tất cả đều nhờ uy lực của Đại Pháp và Phật ân hạo đãng của Sáng Thế Chủ. Các đệ tử Đại Pháp địa phương đã cùng học và hồng truyền Đại Pháp; tôi thật may mắn được tận mắt chứng kiến quá trình vô cùng ý nghĩa ấy.
Lời kết: Hình thành chỉnh thể, theo Sư phụ khai mở kỷ nguyên mới
Sau đó, cùng với tiến trình Chính Pháp, chúng tôi còn tham gia duy hộ Đại Pháp trước Đài Truyền hình Bắc Kinh năm 1998 và cuộc thỉnh nguyện ôn hòa ngày 25 tháng 4 năm 1999 tại Trung Nam Hải. Được trở thành một lạp tử Đại Pháp, hòa mình trong Đại Pháp và đứng ra duy hộ Đại Pháp là vinh dự vô cùng to lớn! Những trải nghiệm ấy đã đặt nền tảng vững chắc để tôi có thể làm tốt những việc mình cần làm khi cuộc bức hại điên cuồng bắt đầu vào ngày 20 tháng 7 năm 1999.
Thoáng chốc 30 năm đã trôi qua. Đệ tử Đại Pháp nay đã có mặt tại hơn 100 quốc gia và khu vực. Đoàn Nghệ thuật Shen Yun, với những màn trình diễn thuần thiện, thuần mỹ tái hiện nền văn hóa Thần truyền huy hoàng 5.000 năm trước thời Trung Cộng, đã phát triển thành tám đoàn. Các chuyến lưu diễn trên toàn thế giới được khán giả thuộc mọi sắc tộc, mọi tầng lớp đón nhận nồng nhiệt; vẻ đẹp của Pháp Luân Đại Pháp ngày càng được nhiều người biết đến. Trong khi đó, Trung Cộng tà ác, thế lực bức hại chính tín, đang đi đến sụp đổ và giải thể. Ngày càng nhiều người nhận rõ bản chất ma quỷ, tà linh của nó. Cuộc đại chiến chính tà trên toàn cầu nhằm vây quét Trung Cộng đang mở ra; ngày Trung Cộng bị Trời diệt đã gần kề.
Trải qua 27 năm bức hại đầy sóng gió, các đệ tử Đại Pháp vẫn không gục ngã. Chúng tôi kiên định chính tín và vững bước đến hôm nay. Trong hai năm qua, các đệ tử Đại Pháp địa phương chúng tôi đã đồng tâm hiệp lực khôi phục và thành lập nhiều nhóm học Pháp. Chúng tôi cũng tổ chức hai Pháp hội nhằm thúc đẩy sự đề cao của toàn chỉnh thể. Mọi người một lần nữa hình thành một chỉnh thể vững vàng hơn, cùng nhau đề cao và làm tốt ba việc.
Tôi may mắn được trở thành một sinh mệnh vĩ đại theo Sư phụ khai mở kỷ nguyên mới. Đó là vinh diệu vô cùng lớn lao mà Sư phụ đã ban tặng cho tôi. Tương lai mỹ hảo Sư phụ dành cho chúng ta đang ở ngay trước mắt. Hồi tưởng lại từng chuyện nhỏ 30 năm trước, tôi mong mình sẽ làm tốt hơn nữa trong thời gian tới, cùng những người thiện lương trên khắp thế giới mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại.
Con xin cảm tạ Sư phụ từ bi vĩ đại đã bảo hộ con suốt 30 năm qua! Cảm tạ Sư phụ đã dẫn dắt chúng con khai mở một kỷ nguyên hoàn toàn mới!
Bản quyền © 1999-2026 Minghui.org. Mọi quyền được bảo lưu.
Bản tiếng Hán: https://www.minghui.org/mh/articles/2026/7/31/512856.html
Bản tiếng Anh: https://en.minghui.org/html/articles/2026/9/20/235948.html


