Bài viết của Trí Chân

[MINH HUỆ 29-04-2012] Nhan Hồi là người nước Lỗ (Khúc Phụ – Sơn Đông ngày nay), sống vào cuối thời Xuân Thu, tên chữ là Tử Uyên, còn gọi là Nhan Uyên. Năm 13 tuổi ông theo học Khổng Tử, cả đời dốc sức thực hành những giáo huấn của thầy. Trong “Luận ngữ” có ghi chép: “Nhan Hồi thông minh nhanh nhẹn lại hiếu học, có đức hạnh xuất chúng, có chí hướng cao xa, biết tôn sư trọng đạo”. Ông thực sự làm được “mưu đạo bất mưu thực (mưu cầu đạo chứ không mưu cầu ăn), “ưu đạo bất ưu bần” (lo đạo chứ không lo nghèo). Ông nhiều lần được Khổng Tử khen ngợi, được đời sau tôn xưng là “Phục Thánh”.

Học để sáng tỏ đạo

Nhan Hồi cần mẫn học tập, giỏi suy nghĩ, học để vận dụng thực tế. Mặc dụ điều kiện học tập rất gian khổ nhưng ông dậy sớm ngủ muộn để đọc sách nghiên cứu kinh Thi và kinh Lễ. Ông ôn tập học đi học lại nhiều lần những giáo huấn của Khổng Tử, đã làm được “Văn nhất dĩ tri thập” (Nghe một biết mười).

Khổng Tử nhiều lần khen ngợi Nhan Hồi hiếu học, khen Nhan Hồi hễ nghe được lời thầy dạy liền lập tức thực hành, “Nghe những lời dạy bảo của ta, lập tức thực hành theo không mệt mỏi, có lẽ thì chỉ có Nhan Hồi thôi”. Khổng Tử khen ngợi phẩm đức khiêm tốn của Nhan Hồi: “Nhan Hồi đã gần với đạo rồi, tâm luôn khiêm tốn hư không”, khen Nhan Hồi biết chọn theo cái thiện, điều hay “Đắc được một điều hay thì nắm chắc lấy, giữ trong lòng, không để mất đi.”

Khổng Tử nói: “Nhan Hồi thật hiền đức làm sao. Một giỏ cơm, một bầu nước, ở trong ngõ nhỏ tồi tàn. Người ta thì lo buồn không chịu nổi cái khổ đó, còn Nhan Hồi thì vẫn vui vẻ như thường” (“Luận ngữ” – Ung dã). Câu nói này cũng tương tự với câu nói của Khổng Tử rằng: “Ăn cơm thô, uống nước trắng, gối đầu lên cánh tay ngủ, niềm vui cũng là ở trong đó.”

Trong hành trình sinh mệnh gian nan đầy nỗi lo toan hoạn nạn, bậc thầy Khổng Tử có thể “Vui mà quên cả ưu lo”. Trong cảnh ngộ cuộc sống bần hàn khốn khổ, học trò Nhan Hồi có thể “Vẫn vui vẻ như thường”. Đối với những người phẩm đức cao thượng như Khổng Tử và Nhan Hồi mà nói thì niềm vui không phải là hưởng thụ vật chất mà là truy cầu cảnh giới tinh thần. Mọi người gộp niềm vui nơi sâu thẳm tâm hồn dung hợp với Đạo này và tinh thần an bần lạc Đạo của hai ông gọi chung là “Niềm vui của Khổng Nhan”. Những trí thức Nho gia sau này đều tìm kiếm vẻ đẹp tinh thần của “Niềm vui của Khổng Nhan” làm cảnh giới lý tưởng trau dồi thế giới nội tâm của mình.

“Học” là bồi dưỡng đức hạnh người quân tử và thực hiện thực tiễn luân lý đạo đức. Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử: “Trong các đệ tử của ngài thì ai hiếu học?

Khổng Tử trả lời: “Có Nhan Hồi hiếu học, không nổi giận với ai, không mắc cùng lỗi lần thứ hai.”

Trên tất cả các phương diện, Nhan Hồi đều nghiêm khắc yêu cầu chính mình. Đối với mỗi lời dạy của thầy, ông đều không trễ nải, giỏi tự kiểm điểm bản thân, “tìm lỗi ở bản thân”, nghiêm khắc tự giác kỷ luật, khoan dung đối đãi với người, cuối cùng đã thành tựu nhân cách người quân tử nhân đức, phong thái mẫu mực của Nho gia. Về đối nhân xử thế, Nhan Hồi nói: “Người khác thiện với mình thì mình cũng thiện với họ. Người khác bất thiện với mình thì mình vẫn thiện với họ.”

Nhan Hồi cả đời theo Khổng Tử. Ông theo Khổng Tử đi chu du các nước để hoằng dương đạo. Sau khi trở về nước Lỗ, ngoài dạy học ra ông còn giúp Khổng Tử chỉnh lý điển tịch cổ đại. Ông là một trong những người chỉnh lý chính của “Kinh dịch”. Nhan Hồi cả đời hiếu học không mệt mỏi. Học trò của Khổng Tử là Tử Cống ca ngợi Nhan Hồi rằng: “Luôn thức khuya dậy sớm, đọc tụng sùng lễ, không mắc lỗi lặp lại, khen ngợi nói năng thận trọng thì đó là đức hạnh của Nhan Hồi.”

Trình Di đời Tống ca ngợi Nhan Hồi rằng: “Yêu thích duy nhất của Nhan Hồi là học sao? Học là để đạt đến Đạo của Thánh nhân.”

Sùng lễ thực hành nhân đức

Nhan Hồi nổi tiếng bởi đức hạnh, ông nghiêm túc lĩnh ngộ hàm nghĩa về chữ Nhân, Lễ của Khổng Tử, đồng thời thực sự dốc hết sức thực hiện, “nhanh nhẹn thực hiện mà cẩn thận nói năng”. Nhan Hồi thỉnh giáo Khổng Tử thế nào là nhân, Khổng Tử trả lời rằng: “Khắc chế bản thân trở về với lễ chính là nhân. Ngày nào khắc chế được bản thân trở về với lễ thì thiên hạ sẽ quy về với nhân đức.”

Nhan Hồi lại hỏi yêu cầu cụ thể về nhân gồm những gì, Khổng Tử trả lời: “Không hợp với lễ thì không nhìn, không hợp với lễ thì không nghe, không hợp với lễ thì không nói, không hợp với lễ thì không làm”. Nhan Hồi liền bày tỏ: “Con tuy không thông minh nhạy bén cũng xin dốc lòng làm theo những lời dạy này của thầy.”

Khổng Tử khen ngợi Nhan Hồi là người nhân đức, đồng thời khen ông có tứ đức của người quân tử, tức là mạnh mẽ làm việc nghĩa, mềm mại tiếp thu can gián, sợ hãi e dè khi được quan lộc, cẩn thận tu thân. Trong “Khổng Tử gia ngư” có ghi chép: “Nhan Hồi, Tử Lộ, Tử Cống theo yêu cầu của Khổng Tử, mỗi người nói lên chí hướng của mình. Nhan Hồi nói rằng: “Con mong muốn có được bậc minh vương Thánh chủ để phò tá, thực thi giáo hóa luân lý đạo đức, dùng lễ nhạc để dẫn dắt người dân, khiến người dân không phải xây thành đắp lũy, không phải vượt hào sâu, đúc đao kiếm giáo mác thành nông cụ, thả trâu ngựa nơi thảo nguyên. Gia thất không còn nỗi lo ly tán, ngàn năm chẳng còn họa chiến tranh.”

Bình luận về lý tưởng của 3 học trò, Khổng Tử bình luận Tử Lộ rằng: “Dũng cảm thay”, bình luận Tử Cống rằng: “Giỏi biện luận thay”, và bình luận Nhan Hồi rằng: “Tốt đẹp thay. Đó chính là đức vậy.”

Khổng Tử đề xướng nền nhân chính và đạo đức. Niềm mong mỏi của Nhan Hồi cũng chính là xã hội thực thi giáo hóa đạo đức, người người đều coi trọng nhân nghĩa, ai nấy đều yêu chuộng lễ nghĩa phép tắc. Mà thực hiện lý tưởng này thì Nhan Hồi và Khổng Tử đều chủ trương giáo hóa là chính, bất kể là hoàn cảnh gian nan như thế nào cũng phải nan hành năng hành (khó làm vẫn cứ làm bằng được).

Sách “Hàn thi ngoại truyện” có ghi chép lời của Nhan Hồi rằng: “Chủ trương dùng Đạo quản lý, dùng đức giáo hóa để mọi người tâm phục, vua tôi đồng lòng, trong ngoài hợp ứng nhau. Các nước chư hầu, không ai là không theo nghĩa. Người khỏe đi, người già được dìu đỡ. Thực hiện giáo hóa tới muôn dân, thực thi đức khắp bốn phương nơi còn hoang dã thô lậu, không đâu là không vứt bỏ binh khí, người dân tụ họp khắp bốn cổng thành. Thiên hạ đều được yên ổn mãi mãi, côn trùng giun dế tự do bay chạy, các loài đều vui với bản tính của nó. Tiến cử hiền tài sử dụng hiền năng, ai nấy làm việc theo khả năng của mình. Thế là vua yên ổn ở trên, bề tôi hòa thuận ở dưới, hành động vô vi mà đều ở trong Đạo, thong dong hợp với lễ.”

Nhan Hồi còn nói: “Vua Thuấn là người như thế nào, ta là người như thế nào. Người có tu dưỡng thì cũng làm được như thế.”

Mạnh Tử ca ngợi Nhan Hồi rằng: “Hạ Vũ, Hậu Tắc và Nhan Hồi cùng một Đạo. Hạ Vũ lo thiên hạ có người chịu lũ lụt như chính mình bị ngập lụt. Hậu Tắc lo thiên hạ có người bị đói rét như chính mình bị đói rét. Cấp bánh như nỗi cấp bách của mình. Hạ Vũ, Hậu Tắc và Nhan Hồi ở các vùng khác nhau mà đều giống nhau như vậy.”

Coi chí thầy là chí mình

Hơn 2000 năm nay Nhan Hồi luôn được người đời sau coi là mẫu mực của người tôn sư trọng Đạo. Ông thể nghiệm sâu sắc sự tinh thâm rộng lớn của tư tưởng Khổng Tử. Ông nói rằng: “Ngẩng lên nhìn cao vòi vọi, dùi mài đi sâu nghiên cứu thì kiên cố vững chắc vô cùng. Nhìn ở phía trước, bỗng đã thấy ở phía sau. Phu Tử khéo từng bước dẫn dắt người, dùng văn để mở rộng hiểu biết của ta, lại dùng lễ để ước thúc hành vi ý niệm của ta. Muốn dừng lại cũng không thể dừng được.”

Nhan Hồi vô cùng kính trọng Khổng Tử, đối với Khổng Tử, không việc nào mà ông không làm theo, không lời nào mà ông không nghe theo. Trong chương “Điền Tử Phương” sách “Tranh Tử” có viết “Phu Tử đi chậm thì ông cũng đi chậm, Phu Tử đi nhanh thì ông cũng đi nhanh.”

Trong “Luận ngữ” có viết: “Khổng Tử đi Nhan Hồi theo sau”. Đương nhiên Nhan Hồi không chỉ là đi theo mà cả đời ông dốc lòng đặt tâm thực hiện theo lời dạy của Khổng Tử. Khổng Tử cũng cho rằng “Nhan Hồi coi ta như cha đẻ vậy.”

Nhan Hồi nhân đức đã ảnh hưởng đến rất nhiều người đồng môn, Khổng Tử nói: “Từ khi ta có Nhan Hồi thì các môn sinh càng ngày càng thân cận gần gũi nhau.”

Trong “Khổng Tử gia ngữ” có ghi chép: “Thiếu Chính Mão cổ xúy tuyên truyền tà thuyết, đồng thời cùng giảng thuyết tranh đệ tử với Khổng Tử. Rất nhiều học trò của Khổng Tử dao động, khiến cho học đường của Khổng Tử ‘3 lần đầy ắp 3 lần trống vắng’. Duy chỉ có Nhan Hồi là chưa bao giờ rời xa Khổng Tử nửa bước. Có người hỏi ông rằng: “Sao ông không đến học Thiếu Chính Mão?”. Nhan Hồi đáp: “Một ngày là thầy, cả đời là cha. Hơn nữa học vấn của Phu Tử tuân theo Thiên mệnh, đề xướng nhân đức, cho thấy là chính đạo, đủ để ta tu dưỡng học tập, sao phải đi?”

Khổng Tử đi chu du các nước hoằng dương đạo, Nhan Hồi theo sát Khổng Tử, kiên định niềm tin. Thời kỳ Khổng Tử gặp ách vận gian nan nhất ở đất Trần đất Thái, Khổng Tử vẫn kiên trì lý tưởng “giảng tụng đàn hát không suy giảm”. Trong nghịch cảnh không được người đời tiếp nhận dung nạp, có nhiều học trò dao động, nhưng Nhan Hồi vẫn trước sau như một không gì lay chuyển nổi.

Nhan Hồi nói: “Đạo của Phu Tử đạt đến cảnh giới vô cùng cao, do đó không được một số người chấp nhận. Mặc dù như vậy, Phu Tử vẫn tận tâm tận lực thúc đẩy thực hiện, dùng cái tâm nhân đức để cứu bách tính trong nước lửa. Tuy bị ngăn cản đố kỵ ghen ghét, không được một số người chấp nhận thì đối với Đạo của Phu Tử có gì tổn thất đâu? Đây có chính là cái trân quý của Đạo. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều có thể giữ vững chính Đạo không dao động thì chỉ người quân tử mới làm được. Không tu dưỡng chính Đạo là nỗi sỉ nhục của chúng ta. Chúng ta truyền bá chính Đạo nhưng bị một số người không chấp nhận thì đó là nỗi sỉ nhục của họ.”

Các đệ tử của Khổng môn đều ca ngợi Nhan Hồi lâm nạn mà không mất đi đức hạnh, khốn cùng mà không thay đổi tiết tháo, “Tôi tin Nhan Hồi là người nhân đức từ lâu rồi”, “Tôi tin Nhan Hồi không phải đợi đến hôm nay.”

Sau này Vương Phù đời Hán cũng ca ngợi Nhan Hồi rằng: “Bị vây khốn đói khát nơi hoang dã, giữ chí vững vàng, giữ tiết tháo không suy chuyển. Ân sủng quan lộc thể không ngăn cấm được, uy vũ không thể khuất phục được. Cho dù có ngôi vị tôn quý của bậc quân vương, có địa vị của bậc công hầu mà đức nghĩa bị tổn thất, lễ nghĩa không được hoằng dương, khuất chí để được danh thơm, trái lương tâm để được nổi danh thì nhất quyết không làm.”

Tư tưởng Thiên mệnh của Khổng Tử nói về đạo lý kính Thiên tri mệnh, đức xứng với Trời. Thiên mệnh cả đời của Khổng Tử và các đệ tử là kế thừa Đạo thống, truyền thừa kế tục mạch văn hóa ngàn năm, kiên định “Đạo cứu giúp thiên hạ.” Trong hoàn cảnh xã hội lễ băng nhạc hoại, tuy cả đời lang bạt khốn khổ, luôn gặp cảnh khốn cùng, liên tiếp gặp gian nan nhưng trước sau vẫn kiên định không thay đổi. Không toại nguyện, chí chẳng thành, có đức lớn như trời đất, tạo ân trạch cho người dân suốt trên 2000 năm. Phong thượng tôn sư trọng Đạo của các đệ tử Khổng môn được người các thời đại tôn sùng. Nhan Hồi coi chí thầy làm chí mình, coi ước nguyện của thầy là ước nguyện của mình, theo chân Khổng Tử thực hành nhân nghĩa khắp thiên hạ, đã để lại phong cách mẫu mực của bậc Thánh hiền tôn sư trọng Đạo và quyết chí bền lòng truy cầu chân lý.


Bản tiếng Hán: http://big5.minghui.org/mh/articles/2012/4/29/文史漫談-揚道義以濟世-視師志為己志-256184.html

Đăng ngày 07-05-2019; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share