Ban Biên tập Minh Huệ chỉnh lý

[MINH HUỆ 1-1-2001]

Từ trước tới nay vùng núi Himalaya vẫn luôn là vùng đất có nhiều người tu luyện, người dân ở đó có một cuộc sống chất phác, ai ai cũng giỏi múa hát, ngoài ra còn sùng bái Phật Pháp. Lúc bấy giờ có một người tu luyện tên là Milarepa. Chúng Phật Bồ Tát phải tu nhiều đời nhiều kiếp mới thành, nhưng Milarepa lại chỉ cần một đời là thành tựu được công đức tương đương với những Phật và Bồ Tát ấy, sau này trở thành thủy tổ của Bạch giáo Tạng Mật.

Tiếp theo Phần 11


Tôn giả thị hiện trạng thái bệnh ở động Sý Kết. Lúc đó trên không trung xuất hiện các điềm lành như cầu vồng, mưa hoa giống y như lúc ngài thuyết pháp. Thế là mọi người biết tôn giả thực sự muốn đến thế giới của ngài rồi. Các đệ tử Tịch Quang Nhã Ba, Nhạn Tổng Đốn Ba, Sắc Vấn Nhạ Ba bèn thỉnh giáo tôn giả rằng: “Sau khi tôn giả Niết Bàn, sẽ đến nơi Tịnh Thổ nào? Đệ tử chúng con nên hướng về đâu cầu nguyện?”

Tôn giả nói: “Các con tùy ý cầu nguyện ở nơi nào đều như nhau. Chỉ cần có tín tâm, thành kính cầu nguyện, ta nhất định sẽ ở trước mặt các con. Điều các con cầu nguyện, ta nhất định sẽ ban cho. Lần này, ta muốn đến Tịnh Thổ Hiện Hỷ ở phương Đông để bái Bất Động Như Lai. Trước đây ta đã đề cập đến rồi, vẫn còn lời muốn nói với các con, đó chính là di chúc của ta. Ta Milarepa sau khi chết, trừ vài vật dụng rất ít ra, ta không có bất kỳ tài sản nào khác. Các con có thể đem áo bông và gậy của ta giao cho Nhạ Quỳnh Ba, cậu ấy sẽ sớm đến đây, bảo cho cậu ấy biết hai vật này có liên quan đến duyên khởi của tu luyện khí công. Trước khi Nhạ Quỳnh Ba đến, nhất định không được động đến thi thể ta.

Chiếc mũ và gậy gỗ trầm hương của Chủ Mai Kỷ Ba này, có duyên khởi hoằng dương Phật Pháp bằng việc thiện quan thiện kiến, giao cho Vệ Ba Đốn Ba. Cái bát gỗ này, Tịch Quang, con cầm lấy đi. Cái Linh Cái này, Nhạn Tổng Đốn Ba, cho con đó. Đá đánh lửa thì cho Sắc Vấn Nhạ Ba. Cái chìa khóa bằng xương này, cho Sý Cống Nhạ Ba. Hãy lấy chiếc nệm vải này, chia thành nhiều mảnh nhỏ, chia cho các đệ tử khác, mỗi người có thể lấy một miếng. Những đồ vật này của ta không có giá trị tiền bạc gì, ý nghĩa tặng cho các con, chủ yếu là ở hiển thị duyên khởi mà thôi.

Di chúc quan trọng nhất của ta và vàng mà nhiều đời ta, Milarepa tích tụ lại, đều được cất giữ ở dưới cái bếp này. Sau khi ta chết, có nhiều đệ tử không hiểu biết có thể sẽ tranh cãi vì chuyện hậu sự của ta, lúc đó các con có thể mở di chúc đó ra xem. Trong đó còn có biện pháp chỉ bảo các con tu hành.

Lại có một số người học Phật chỉ có rất ít phúc đức, vì nghe danh cung kính ta đời này, bề ngoài là làm Phật sự, làm công đức, trên thực tế, họ cúng thí tiền trăm thì trong lòng lại muốn thu hồi tiền nghìn. Những người thế tục hành thiện vì tham cầu quả báo này, cũng giống như đem thuốc độc trộn với rượu ngon mà uống. Do đó, các con không nên vì cung kính nghe danh đời này mà uống thuốc độc ‘háo danh’ đó. Những việc bề ngoài biểu hiện là Phật Pháp, nhưng thực tế lại là việc thế gian pháp đó, các con đều phải triệt để vứt bỏ, một lòng tinh tấn, tu hành Phật Pháp thuần tịnh mới được.”

Các đệ tử lại thỉnh giáo tôn giả: “Nếu có lợi cho chúng sinh, chúng con có được làm một chút thế gian pháp không?”

Tôn giả nói: “Động cơ làm thế gian pháp, nếu không hề có tý chút vì bản thân nào, thế thì có thể làm. Nhưng làm như thế này, thực tế là quá khó rồi. Nếu là vì tham dục bản thân mà làm việc lợi cho người khác, thì tự lợi cho mình cũng không thành, càng không thể nói là lợi cho người khác được. Chính là giống như người không biết bơi mà đi bơi, không những bơi không nổi, trái lại lại bị nước dìm chết. Do đó, trước khi chứng được thực tướng không tính, tốt nhất là không được nói đến việc lợi ích chúng sinh. Bản thân không tu được đắc chứng mà muốn lợi ích chúng sinh, thì cũng giống như người mù dẫn đường kẻ đui, cuối cùng sẽ rơi vào vực sâu của tự tư. Bản lai hư không vô tận, chúng sinh cũng vô tận, sau khi bản thân tu hành thành tựu rồi, cơ hội độ chúng sinh thực sự quá nhiều. Bất kể lúc nào, bất kể nơi nào, đều có thể hóa độ chúng sinh. Trước khi thành tựu, các con nên phát ‘đại từ tâm’ bằng ‘thanh tịnh ý’, vì duyên cớ lợi ích hết thảy chúng sinh mà khẩn cầu Phật quả. Buông bỏ tư tưởng ăn mặc danh lợi, thân thể chịu khổ nhọc, tâm chí chịu gánh nặng, như thế tu mới được. Đây chính là độ chúng sinh, cũng chính là lợi ích cuối cùng của tu hành nhập đạo, hoàn thành hết thảy bản thân và cho người khác.“

Tôn giả Milarepa lại nói tiếp: “Bây giờ ta không thể ở lại lâu nữa, các con nên nhớ kỹ lời ta, kế thừa giữ gìn tông phong của ta.” Nói xong liền nhập đại định, thị hiện viên tịch. Hưởng thọ 84 tuổi, vào bình minh ngày 14 tháng cuối đông năm Mộc thử (năm 1135), khi ánh sáng các vì sao sắp hết, mặt trời bình minh đang lên, sắc thân tôn giả nhập Pháp giới thể tính, hiển thị tướng Niết Bàn.

Lúc này thắng tướng Thiên nhân Không hành tụ hội so với trước đây càng to lớn thù thắng hơn. Trên không trung xuất hiện cầu vồng rực rỡ rất to lớn. Cầu vồng này rõ ràng đến mức như với tay ra là có thể chạm được. Các loại màu sắc rực rỡ đan xen trên bầu trời, giữa cầu vồng có hình tượng đóa sen 8 cánh, trên hoa sen có chiếc Mạn đà la (Đàn tràng) cực kỳ mỹ lệ. Họa sỹ giỏi nhất thế giới cũng không thể vẽ được Đàn tràng đẹp như thế này. Những đám mây ngũ sắc nhọn đầu biến thành các hình dáng vô tận như cờ phướn thắng chàng, vòng tua rua, bảo phướn … Các đóa hoa đủ các loại các màu sắc từ trên trời rơi xuống, phất phới như mưa rơi. Mây màu quấn quanh bốn bề đỉnh núi. Đám mây có hình bảo tháp bao quanh trung tâm Khúc Ba. Mọi người đều nghe được tiếng nhạc Trời và lời ca tụng vui tai. Mùi hương kỳ lạ bao trùm khắp mặt đất. Người thế tục thế gian cũng đều nhìn thấy tượng Thần người Trời đầy khắp bầu trời, đều tiến hành cúng dường rộng khắp. Mọi người thấy các Thiên Thần lõa thể cũng không cho là kỳ lạ. Các Thiên Thần ai nấy đều sợ ngửi mùi hôi của cơ thể con người, gặp người thường lấy tay che mặt bịt mũi mà đi qua. Có Thiên Thần cùng con người trò chuyện, chào hỏi. Mọi người ai cũng trông thấy những kỳ tích hy hữu này.

Các thí chủ ở Áp Long nghe tin tôn giả đã nhập Niết Bàn đều chạy đến Khúc Ba, nói rất nhiều lý do với các đại đệ tử và các thí chủ ở Khúc Ba, muốn đem di thể của tôn giả đến Áp Long mai táng, nhưng bị các đại đệ tử của tôn giả từ chối. Thế là các thí chủ ở Áp Long yêu cầu tạm hoãn cử hành đại lễ, để cho các tín đồ ở Bố Lâm và các nơi khác có cơ hội cuối cùng, đến chiêm ngưỡng lần cuối Thánh dung của tôn giả. Các thí chủ ở Khúc Ba đồng ý yêu cầu này. Người Áp Long liền trở về khẩn cấp họp bàn, kết quả họ đem theo một nhóm dũng sỹ có sức mạnh đến chuẩn bị cướp di thể tôn giả. Thế là cùng với các thí chủ ở Khúc Ba, hai bên tranh cãi nảy lửa, đến mức dường như sắp dùng vũ lực. Các đại đệ tử thấy tình hình như thế này, lập tức nói với họ rằng: “Mọi người đều là tín đồ của tôn giả, xin đừng tranh cãi nữa. Tôn giả đã nhập Niết Bàn ở Khúc Ba, đương nhiên không thích hợp cử hành đại lễ ở Áp Long, xin mọi người hãy đợi ở đây, sau khi đại lễ cử hành xong, mọi người nhất định được một phần xá lợi và tro cốt của tôn giả để cúng dường.”

Nhưng những người Áp Long cậy nhiều người, không muốn nghe theo, vẫn muốn chuẩn bị cướp. Bỗng nhiên trên không trung xuất hiện một Thiên Thần, miệng phát ra tiếng nói của tôn giả.

Các thí chủ và các tín đồ như là lại thấy tôn giả, hoan hỷ và vui mừng không nói nên lời, mọi người đều không tranh cãi nữa, chỉ một lòng một dạ cầu nguyện. Cuối cùng trong huyền ảo không thể tưởng tượng nổi, ngoài di thể tôn giả mà các đại đệ tử và các thí chủ ở Khúc Ba đang bảo quản ra, người dân ở Áp Long lại có được một bộ di thể khác của tôn giả, họ liền rước di thể này lên đỉnh hang Đại Bằng Đản ở Na Kỳ Tuyết Sơn cử hành hỏa táng. Trên không trung lại xuất hiện cầu vồng ngũ sắc, mây màu, nhạc Trời, hương thơm kỳ lại, và các cảnh tượng kỳ diệu khác giống như lần trước khi Niết Bàn.

Ở Khúc Ba, các đại đệ tử và các thí chủ liên tục nhất tâm cầu nguyện 6 ngày rồi, gương mặt tôn giả bỗng nhiên phát ra ánh sáng rực, dáng vẻ trẻ ra như một tiểu đồng 8 tuổi. Lúc đó mấy đại đệ tử bàn luận rằng: “Nhạ Quỳnh Ba e rằng sẽ không đến. Nếu chúng ta tiếp tục trì hoãn nữa, có thể không còn gì để lưu lại nữa. Thậm chí một chút tro xương cũng không có được. Hay là chúng ta nhanh chóng cử hành hỏa táng đi.”

Sau khi mọi người thương lượng, bèn theo thứ tự chiêm ngưỡng Thánh dung của tôn giả lần cuối cùng. Đồng thời, đem Thánh thể đến bảo tọa phía trước động Sý Kết, và bắt đài hỏa táng, sau đó đem Thánh thể để lên đài, vạch xong đàn tràng. Tuy cúng dường không so được với Thiên nhân, nhưng đem các đồ cúng tốt nhất chốn nhân gian bày ra. Và lúc bình minh, cử hành các nghi thức cầu nguyện, mọi người đều muốn cử hành hỏa táng. Nhưng bất luận thế nào đi nữa, lửa không thể thắp lên được. Lúc đó, trên không trung bỗng xuất hiện một cầu vồng, đem theo năm vị Không hành mẫu.

Thế là Nhạn Tổng Nhạ Ba nói: “Di huấn của tôn giả và mấy vị Không hạnh, đều bảo chúng ta là, trước khi Nhạ Quỳnh Ba đến, không được động đến di thể tôn giả. Nhưng Nhạ Quỳnh Ba đến giờ vẫn chưa đến, e rằng chẳng bao lâu di thể sẽ thối rữa, làm thế nào bây giờ?”

Tịch Quang Nhã Ba nói: “Từ giáo huấn của tôn giả và Không hành giả, và các nhân duyên lửa không thiêu được di thể, có thể thấy, Nhạ Quỳnh Ba nhất định sẽ mau chóng trở về. Chúng ta hãy cứ khẩn thiết cầu nguyện đi.”

Mọi người đem Thánh thể trở lại trong hang động, đều nhất tâm khẩn thiết cầu nguyện.

Lại nói, Nhạ Quỳnh Ba lúc đó đang tu Pháp ở chùa La Nhược Đa. Một hôm vào buổi tối, sau lúc nửa đêm, cảm giác ánh sáng và buồn ngủ hòa vào nhau, ông nhìn thấy vùng đất Khúc Ba, có tòa tháp pha lê phát ánh sáng ra bốn phía xung quanh trống trải. Vô số các Không hành vây quanh bảo tháp này, cung thỉnh đến thế giới khác. Trên mặt đất, nơi nơi đều là anh em Kim Cang của mình và các thí chủ của tôn giả. Tiếng hát của Thiên Thần và Không hành vang khắp bầu không, nơi nơi đều có những đám mây cúng dường lớn không thể tưởng tượng nổi. Nhạ Quỳnh Ba đảnh lễ với bảo tháp, bỗng nhiên gương mặt tôn giả từ trong bảo tháp hiện ra, nói với Nhạ Quỳnh Ba rằng: “Con à, tuy con không theo lời ta kịp thời trở về, nhưng nếu cha con ta có thể được gặp lại lần nữa, ta sẽ vô cùng vui mừng. Cha con ta từ nay về sau e rằng không thể thường gặp nhau được nữa, đừng để mất cơ hội khó có được như thế này nữa, để cha con ta trò chuyện một lần nữa nhé!” Nói rồi, tôn giả liền đặt tay lên đầu Nhạ Quỳnh Ba, gương mặt tươi cười nhìn anh. Nhạ Quỳnh Ba trong lòng vừa buồn vừa vui, nảy sinh tín tâm xưa nay chưa từng có, và có cảm giác khó có được.

Sau khi Nhạ Quỳnh Ba tỉnh lại, nghĩ tới trước đây tôn giả đã nói với mình, muốn anh vào thời gian nào trở về, trong lòng vô cùng kinh hoàng: “Lẽ nào tôn giả Niết Bàn rồi?” Bỗng nhiên nảy sinh bi ai khó chịu nổi và tín tâm mạnh mẽ. Thế là một lòng cầu nguyện với tôn giả rằng: “Thưa thượng sư, con không đến kịp thời, thực sự rất hối hận. Nhưng con sẽ trở về ngay đây.” Đang suy nghĩ, trên không trung xuất hiện hai thiếu nữ nói với anh rằng: “Nhạ Quỳnh Ba, tôn giả sắp đi đến Tịnh thổ rồi, nếu anh không nhanh lên, e rằng đời này không thể gặp được tôn giả nữa. Đi nhanh lên!”

Lúc này Nhạ Quỳnh Ba trong lòng chỉ nhớ thượng sư, lòng mong mỏi trở về như tên bay, lập tức lên đường trở về. Chim chóc ở chùa La Nhược Đa vào lúc đó đang ríu rít báo trời sáng.

Nhạ Quỳnh Ba một lòng cầu nguyện thượng sư, một mặt vận khí công, bay như mũi tên. Quãng đường lừa, ngựa đi phải mất hai tháng, nửa buổi sáng anh đã bay qua rồi. Khi đến đỉnh núi Bát Trại nơi giao giới giữa Đình Nhật và Bố Lâm, trời mới sáng rõ, mặt trời mới vừa mọc. Anh bèn ngồi xuống nghỉ ngơi một chút. Ngẩng đầu nhìn, khắp nơi đều thấy mây lành màu sắc rực rỡ bao phủ. Đặc biệt là trên đỉnh núi nơi tôn giả nhập tịch, có một cái lọng mây rộng vô biên vô tế, phát ra những tia sáng muôn trượng. Vô số Thiên Thần, Không hành đang ở đám mây Ngũ Dục làm lễ cúng dường. Có Thiên nhân đang cầu nguyện, có người phát nguyện, có người lễ bái, có người đang hát bài hát ngợi ca. Nhạ Quỳnh Ba trông thấy, trong lòng lại buồn lại mừng, hỏi một vị Thiên Thần một cách hoài nghi: “Các ngài làm lễ cúng dường như thế này, là vì điều gì đấy?”

Thiên Thần đáp: “Nhà ngươi, cái con người này chẳng lẽ tai điếc hay sao? Mắt mù hay sao? Một duyên hội phi thường cả người và Trời đều cúng dường như thế này, ngươi lại không biết sao? Đây là Kim Cang Đại Sỹ Mật Lặc Hỷ Tiếu đến Không hành Sát thổ, đại chúng người và Trời đều đang làm lễ cúng dường cầu nguyện ngài, lẽ nào ngươi không biết?”

Nhạ Quỳnh Ba nghe được mấy lời này, lòng đau như dao cắt, chạy như bay về phía hang núi nơi tôn giả nhập tịch. Khi chạy đến bãi đất bằng phẳng hình như bảo tháp ở Khúc Ba, giống như đang mơ, anh thấy tôn giả gương mặt tươi cười nói với anh: “Có phải con trai ta Nhạ Quỳnh Ba đã về đấy à!”

Nhạ Quỳnh Ba vừa trông thấy, trong lòng vui mừng không tả xiết, cho rằng tôn giả vẫn chưa Niết Bàn, vội vàng bước tới đảnh lễ, cầu nguyện vấn an. Nhạ Quỳnh Ba lại hỏi tôn giả rất nhiều vấn đề, tôn giả đều giải đáp hết. Cuối cùng tôn giả nói với Nhạ Quỳnh Ba: “Con trai à, ta đi trước đây, con đến sau nhé! Tương lai ta sẽ đến tiếp dẫn con! Chớ có quên lời của ta nhé!” Nói rồi, bỗng nhiên trong chớp mắt, tôn giả đã chẳng thấy đâu nữa.

Nhạ Quỳnh Ba trong lòng thấp thỏm vội đến Khúc Ba, đến trước hang núi nơi tôn giả nhập diệt, trông thấy các tín đồ và các thí chủ đứng bên di thể của tôn giả đang đau buồn cầu nguyện đi xung quanh. Có rất nhiều các tín đồ mới đến, họ chưa từng gặp Nhạ Quỳnh Ba, bèn chặn lại không cho anh vào trong động đến gần di thể tôn giả. Nhạ Quỳnh Ba trong lòng đau khổ không tả xiết, đau đớn nhỏ lệ.

“Thượng sư, người cha nhân từ ơn nặng của con ơi! Trong tâm trí vô duyên đại bi đó của ngài, chẳng lẽ không nghe thấy chúng con khóc? Trong tâm trí vô duyên đại bi đó của ngài, chẳng lẽ không thương xót nỗi thống khổ của các đồ nhi của ngài? Ôi, Thượng sư, người cha nhân từ của con ơi!”

Tiếng hát của Nhạ Quỳnh Ba vừa truyền vào trong động, dung nhan của tôn giả đột nhiên phát ánh sáng màu rực rỡ, diện mạo như còn sống. Di thể của tôn giả tự nhiên sinh ra ngọn lửa. Tịch Quang Nhạ Ba, Nhạn Tổng Đốn Ba và các đại đệ tử, các thí chủ nghe thấy tiếng hát của Nhạ Quỳnh Ba, tất cả chạy vội ra nghênh đón. Nhưng Nhạ Quỳnh Ba vì những đệ tử mới đến kia không quen anh, không cho anh vào, trong lòng vô cùng buồn rầu, do đó không lập tức vào ngay. Đến khi hát xong 7 bài hát cúng dường rồi, anh mới đi vào trong động. Vì lời ca nhiệt tình và chí thành của Nhạ Quỳnh Ba cầu nguyện đã cảm động tôn giả. Tuy tôn giả đã đi nhập Đại niết bàn Quang Minh Pháp Tính, lúc này lại từ Quang Minh đến, ngồi lên, nói với các tín đồ mới đến rằng: “Các con là đồ đệ mới tu, không được làm như thế này! Nhạ Quỳnh Ba là Sư tử trong loài người, các con nên kính trọng cậu ấy.” Rồi lại nói với Nhạ Quỳnh Ba: “Con à, con chớ có buồn rầu như thế này, hãy đến bên cha đi con.”

Mọi người thấy kỳ tích này, đều kinh ngạc tán thán không ngớt, trong lòng nảy sinh niềm vui vô lượng.

Nhạ Quỳnh Ba đến trước di thể của tôn giả, ôm lấy tôn giả rồi khóc rống lên. Do đau buồn quá mức, Nhạ Quỳnh Ba đã ngất lăn ra đất. Đến khi anh tỉnh lại, thấy các tín đồ và các thí chủ đang vây quanh đàn tế, song vận thân kim cương vô cấu của tôn giả không ngã xuống, mà đang ngồi vững chãi trong đám lửa hình hoa sen tám lá. Thân thể tôn giả giống như nhụy hoa trong đóa hoa, ngồi trong đám lửa rừng rực của bông sen tám cánh, tay phải làm thủ ấn thuyết pháp hạ xuống áp lên đỉnh ngọn lửa, tay trái đỡ má, làm tư thế ca hát, nói với Nhạ Quỳnh Ba và các đệ tử rằng: “Các con hãy nghe bài hát cuối cùng của ta nhé!” Ngài liền hát một bài ca sáu tâm yếu ngay trên đàn tế:

“Con yêu của ta, Nhạ Quỳnh Ba, hãy nghe bài ca di chúc cuối cùng của ta:

Luân hồi trong biển lửa tam giới, tấm thân ảo ngũ uẩn là mấu chốt;

Tham ăn mặc vật chất nhiều việc bôn tẩu, thế sự vĩnh viễn không hồi kết;

Hãy xả bỏ pháp thế gian đi Nhạ Quỳnh Ba!

Trong thân uẩn huyễn hóa này, vô thể tự tâm là mấu chốt;

Nếu tâm này mà bị cái thân sai khiến, pháp tính thực tướng vĩnh viễn khó chứng ngộ được;

Hãy thiện đãi tự tâm, Nhạ Quỳnh Ba!

Ý nghĩa vi diệu của tâm, vật, lấy, bỏ, bản lai trí huệ là mấu chốt;

Truy cầu biến hóa các duyên khởi, vĩnh viễn khó đắc chứng nghĩa vô sinh;

Hãy thiện quán vô sinh, Nhạ Quỳnh Ba!

Giữ, bỏ đời này, đời kia, trung ấm tâm thức là mấu chốt;

Thường kết bạn với loài vô thân hoặc hữu thân, vĩnh viễn khó đắc chứng ý nghĩa thực tướng;

Hãy thiện quán thực tướng, Nhạ Quỳnh Ba!

Trong lục đạo mê loạn trong thành trì vô mình, tội chướng, ác nghiệp tích tụ như núi;

Tham, sân, phiền não không trừ diệt, vĩnh viễn khó chứng được tính bình đẳng của con người;

Hãy xả tham, sân đi, Nhạ Quỳnh Ba!

Trong vạn ngàn Sát thổ của chư Phật, chư Phật thiện xảo thuyết pháp;

Nếu dựa vào cái lý quyền xảo tướng, vĩnh viễn khó giải ngộ được ý nghĩa cuối cùng;

Hãy xả bỏ quyền giáo đi, Nhạ Quỳnh Ba!

Thượng sư bản tôn và Không hạnh, hãy làm nhất thể quán mà cầu thỉnh;

Chánh kiến thắng hạnh và chánh tu, 3 cái không sai biệt mà tu hành;

Đời này đến thế gian và trung ấm, làm nhất thể tu mà niệm thuộc lòng.

Nay ta truyền cho con khẩu quyết cuối cùng, đây là di ngôn cuối cùng;

Bỏ cái này thì không có chuyên tâm nào khác nữa, y theo cái này tu hành thì là con của ta.”

Tôn giả thuyết lời giáo huấn cuối cùng xong, lại nhập vào Quang minh pháp tính. Tôn giả vừa viên tịch, đàn tế liền phóng ra ánh sáng, biến thành một Việt lượng cung hình vuông, rất nhiều đồ cúng dường như các loại lọng che, mây màu, ngọc tràng sáng rực, vô cùng trang nghiêm. Trong ánh sáng rực lại hóa hiện ra vô số các Thiên nữ, hát múa trong tiếng âm nhạc mỹ diệu.

Trên không phía trên đàn tế, Thiên tử và Thiên nữ bưng các bình ngọc đầy nước cam lộ cúng dường cho tôn giả. Các đồ đệ và các thí chủ, có người thấy trên đàn tế, tôn giả là Hỷ Kim Cương, có người thấy tôn giả là Kim Cương Hợi Mẫu, theo nhân duyên, căn khí của mỗi người khác nhau, mỗi người trông thấy Phật thân khác nhau.

Lúc đó, khắp bầu không vô số các Không hạnh, nhất tề đồng thanh hát rằng:

“Khi Như bảo chí tôn nhập diệt, đại chúng Trời, người đều bi ai;

Người khóc đau đớn, nước mắt như sợi tơ, người hoa mắt loạng choạng không đứng nổi.

Ngọn lửa tự sinh tự thiêu, lửa thành hình bông sen 8 cánh;

Có thất bảo bát cát tường, như ý trai cúng hiện muôn ngàn.

Các nhạc cụ cầm sắt quản huyền, diễn tấu ra vô lượng những âm thanh tuyệt diệu;

Trong lửa hóa ra những Thiên nữ, dâng lên nhiều đồ cúng trong ngoài.

Hương kỳ diệu bao quanh, khí đất trời hòa hợp, ô báu lọng che rực rỡ;

Thiên nữ cát tường để hiến cúng, mang cốt về có tịnh thân;

Thân uẩn chẳng lưu mảy bụi trần, di cốt thượng sư thật hiếm có.

Pháp thân như hư không, bi nguyện báo thân như pháp vân;

Hóa thân sự nghiệp như mưa hoa, thành tựu vô tận các chúng sinh hữu tình.

Pháp tính không tịch vốn chẳng sinh, trong đó không có gì có thể sinh ra;

Không tính cũng rời khỏi tướng sinh tử, sinh diệt cũng chính là không tính;

Nghĩa ‘Không – Có’ ở đây rất thâm sâu, chớ có nghi hoặc sinh ra kiến giải sai lệch.”

Những Không hành hát xong bài ca này, thời gian đã gần hoàng hôn, trời dần dần tối, lửa trên đàn tế cũng đã cháy hết. Nhưng trong và ngoài đàn tế lại là ánh sáng trong suốt. Các đồ đệ cảm thấy vô cùng kỳ lạ, nhìn vào trong đàn tế. Thì ra ở giữa đàn tế xuất hiện một bảo tháp sáng rực. Giữa bảo tháp có người nhìn thấy Nhạc Kim Cương, có người thấy Hợi Mẫu hoặc Hỷ Kim Cương, có người thấy các loại hình chữ chuông, chày, bình quý, thủ ấn, thân, khẩu, ý Kim Cương. Có người thấy ánh sáng vàng kim, có người thấy nước biển, hoặc một đám lửa rừng rực, cũng có người chẳng nhìn thấy gì cả.

Thế là các tín đồ bắt đầu mở cửa đàn tế, để khí nóng tản đi, để hôm sau đến lấy xá lợi tử. Lúc này lại xuất hiện rất nhiều cảnh tượng không thể tưởng tượng nổi. Đêm đó, mọi người quay đầu vào đàn tế, nằm ngay dưới đất ngủ. Sáng sớm hôm sau, khi Nhạ Quỳnh Ba vừa tỉnh giấc, trông thấy năm vị Không hành mẫu cầm các báu vật trang nghiêm, đồ trang sức bằng xương có tua lụa, và các loại đồ cúng dường bước vào trong đàn tế để cúng dường. Một lát, thấy năm vị Không hành mẫu chính từ đàn tế nâng một thứ sáng rực bay đi. Nhạ QUỳnh Ba đang nhìn ngây ra, bỗng nhiên nghĩ ra, ắt là các Không hành mẫu đã đem xá lợi tử tro xương tôn giả đem đi rồi, trong lòng sốt ruột, vội vàng đuổi theo. Lúc đó những Không hạnh mẫu đã nâng xá lợi bay vọt trên trời rồi. Nhạ Quỳnh Ba lập tức trở về gọi hết các huynh đệ dậy. Mọi người mở cửa đàn tế, nhìn vào trong, một hạt xá lợi tử cũng chẳng còn. Nhạ Quỳnh Ba đau đớn buồn rầu vô cùng, bèn thỉnh cầu các Không hành mẫu từ bi chia một chút xá lợi tử cho các đệ tử ở nhân gian.

Không hạnh mẫu nói: “Các ngươi những đại đệ tử này, đã đắc được xá lợi thù thắng nhất rồi, đích thân nhìn thấy pháp thân rồi. Nếu như thế vẫn thấy chưa đủ, có thể cầu xin tôn giả, tôn giả sẽ tự nhiên cho các ngươi. Còn với những người khác, so với tôn giả rực rỡ như nhật nguyệt, thì họ còn không bằng con đom đóm. Những người đó, cho họ xá lợi tử làm gì? Những xá lợi tử này thuộc về chúng tôi.” Nói rồi liền dừng lại giữa không trung bất động. Các đồ đệ nghe thấy những lời của các Không hành mẫu, mọi người nghĩ, những lời này nói không sai, trong lòng rất hối hận.

Mọi người thấy trong tay các Không hành mẫu phóng ra hào quang ngũ sắc, xá lợi tử của tôn giả to như quả trứng chim, giáng hạ xuống đàn tế. Các đệ tử thấy xá lợi tử giáng hạ xuống, đều giơ tay muốn đi lấy, xá lợi tử đột nhiên lại bay lên không trung, lại hòa vào trong ánh hào quang phát ra từ tay các Không hành mẫu. Bỗng nhiên hào quang chia làm hai luồng, một luồng biến thành tòa sư tử bên tòa nhật nguyệt, còn một luồng biến thành một bảo tháp lưu ly trong suốt từ trong ra ngoài. Trong bảo tháp phóng ra ánh sáng ngũ sắc màu hồng, trắng, lam, vàng, lục, chiếu sáng khắp tam thiên đại thiên thế giới, có 1002 vị Phật vây bốn xung quanh, ở giữa là tôn giả Milarepa đang ngồi ngay ngắn. Ức vạn Không hành tập hợp như mây, cúng dường tán thán, có hai Thiên Nữ ở dưới nâng bảo tháp.

Tôn giả nói xong, Không hành mẫu đem bảo tháp, chuẩn bị nghênh thỉnh tôn giả đến Không Hành Sát Thổ. Lúc này Tịch Quang Nhạ Ba trong lòng nghĩ: “Mình nên tính phúc điền cho chúng sinh chốn nhân gian, khẩn cầu Không hành mẫu ban cho bảo tháp này, để các đệ tử chốn nhân gian cúng dường.” Thế là thỉnh cầu một cách đau khổ bức thiết.

Không hành mẫu nâng bảo tháp, bay đến trên các đại đệ tử, bảo tháp bỗng nhiên phóng ra rất nhiều luồng hào quang. Trên đỉnh đầu mỗi đại đệ tử đều có một luồng hào quang chiếu lên. Mọi người đều nhìn thấy tôn giả ở giữa bảo tháp bay vọt vào không trung, biến thành Hỷ Kim Cương, Thượng Lạc Kim Cương, Mật Tập Kim Cương, Chí Tôn Mẫu Đàn Thành, vô lượng Phật Đà, được các Không hành mẫu vây quanh. Cuối cùng chư Phật Bồ Tát hóa thành ánh sáng, tan nhập vào trong tâm tôn giả. Trong tiếng Thiên nhạc đồng thời nổi lên, tôn giả được nghênh thỉnh đến Đông phương Hiện Hỷ Sát Thổ.

Có đồ đệ trông thấy báo thân của tôn giả trang nghiêm, ngồi tòa sư tử, tứ bộ Không hành nâng đưa, Kim Cương Hợi Mẫu dẫn đường, trong tiếng Thiên nhạc không thể tưởng tượng nổi cúng dường, bay về Đông phương Hiện Hỷ Sát Thổ.

Các đại đệ tử trông thấy tôn giả đã lặng lẽ bay đi, không cách nào có được xá lợi tử để cúng dường, thế là mọi người òa lên khóc, đau buồn cầu nguyện. Bỗng nhiên thấy giọng nói của tôn giả từ trên không: “Các con à, các con không phải bi thương như thế này, ở dưới vách đá, tìm bài minh huấn 4 chữ (Thư tịch không đề cập đến 4 chữ đó là gì). Sau này, các con sẽ phát hiện ra đồ cúng đó.” Thế là mọi người liền tìm 4 chữ xung quanh vách đá, quả nhiên phát hiện ra bài minh huấn. Vách đá này hiện nay vẫn còn có thể thấy ở chùa Khúc Ba.

Các đệ tử thấy tôn giả đã đến thế giới khác rồi, trong lòng tuy vô cùng bi thương, nhưng đều biết tương lai nhất định có thể vãng sinh Tịnh thổ của tôn giả, đồng thời cũng minh bạch hết thảy thị hiện của tôn giả, đều là duyên cớ vì Phật Pháp và chúng sinh. Mọi người đều quyết tâm hiến thân cho sự nghiệp nhị lợi, rồi đi xem di chúc của tôn giả và vàng ở phía dưới bếp rốt cuộc là như thế nào.

Mọi người tuy biết tôn giả quyết sẽ không chôn giữ vàng bạc gì, nhưng vì tuân theo di huấn của tôn giả, mọi người đều đến trước bếp đi xem. Quả nhiên dưới bếp phát hiện ra có một miếng vải bông, bên trong bọc một con dao nhỏ, lưỡi dao vẫn rất sắc bén. Chuôi dao có buộc một cái chùy. Ngoài ra còn có một miếng đường, và đá mài dao cùng được bọc trong vải. Mọi người xem xét tỉ mỉ, thấy trên dao còn có khắc mấy hàng chữ nhỏ: “Dùng con dao này, cắt miếng đường và cắt mảnh vải này, mãi mãi chúng sẽ không bị cắt hết. Các con cứ thế này đem đường và vải cắt chia cho tất cả mọi người. Hễ ai ăn chút đường này, hoặc ai được chia phần mảnh vải này, thì sẽ không bị đọa và ba ác đạo. Thức ăn và y phục tam muội của Milarepa, là thượng sư và chư Phật gia trì. Nếu có chúng sinh, nghe được tên của ta, sinh một niệm tín tâm, trong 7 đời, cũng quyết không đọa vào ác thú, đồng thời có thể nhớ việc của 7 đời. Đây là thọ ký của chư Phật Bồ Tát. Nếu có người nói Milarepa có vàng, thì người đó phải ăn phân.” Các đệ tử đang trong bi thương cực độ, nhìn thấy câu di chúc cuối cùng này, thực sự không nén nổi cười phá lên, họ đều rất đỗi vui mừng.

Thế là mọi người liền dùng dao cắt miếng đường, quả thực bất kể cắt bao nhiêu lần, miếng đường đó vẫn cắt không hết. Vải cũng như thế, cắt rất nhiều lần, mảnh vải gốc không hề bị suy giảm một ly. Cứ cắt vô cùng vô tận như thế, mọi người đều được chia đường và vải. Rất nhiều người mắc bệnh, sau khi ăn đường, bệnh lập tức khỏi ngay. Người hạ căn nhiều phiền não, sau khi ăn miếng đường, dần dần trí tuệ tăng trưởng, từ bi cũng tăng lên nhiều.

Khi tổ chức cúng tang lễ, trên Trời giáng hạ hoa tươi ngũ sắc. khi những bông hoa này giáng hạ xuống, quá nửa là các đầu người không nhiều tan biến mất. Có bông hoa rơi xuống đất, nhặt lên xem, mỏng manh nhỏ như cánh ong mật, mỹ lệ dị thường.

Khắp vùng thôn Khúc Ba, Thiên hoa giáng hạ xuống khắp mặt đất, cao đến đầu gối. Các vùng đất lân cận, hoa cũng như tuyết rơi, giáng hạ xuống rất nhiều. Sau khi nghi lễ cúng hoàn tất, các cảnh tượng kỳ lạ dần dần biến mất.

Rất nhiều năm sau đó, mỗi dịp ngày kỷ niệm tôn giả, trên không trung lại xuất hiện cầu vồng dài, giáng hạ mưa hoa, có tiếng thiên nhạc, cuốn theo mùi hương kỳ diệu, và xuất hiện nhiều loại kỳ tích. Đồng thời, trên mặt đất cũng mọc ra rất nhiều hoa kỳ lạ khác nhau. Quanh năm được mùa, người không tai nạn bệnh tật, cũng không có họa chiến tranh. Những chủng loại kỳ tích này, kể ra cũng không thể kể hết.

(Hết)


Bản tiếng Hán: http://www.minghui.org/mh/articles/2001/1/1/5863.html

Đăng ngày 16-09-2018; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Share